NỖI BẤT HẠNH CỦA KẺ KHI MẤT RỒI MỚI BIẾT MÌNH MẤT GÌ?!

Ngày xưa

Ký ức tuổi thơ về một xã hội như ở Việt Nam, vào những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX, chắc chắn người Việt Nam nào cũng ẩn chứa trong tâm tư của mình không ít những điều trăn trở.

Người sống ở miền Bắc, có cái băn khoăn, lo lắng của người miền Bắc, người sống ở miền Nam, có cái phiền muộn, tấm tức của người miền Nam. Băn khoăn không phải chỉ vì không đủ bát cơm, manh áo, bởi lẽ cái nỗi băn khoăn đó có đến 90% nhân loại đều vướng phải.

Tôi muốn nhấn mạnh, cái băn khoăn về sự suy tư trước những diễn biến xã hội diễn ra quanh mình, băn khoăn về lý do gì mà lịch sử lúc đó đất nước mình lại là hai miền? Băn khoăn về việc tại sao ngày đó, khi nhận được tin của người thân sống trong Nam lại không phải là một bức thư, mà chỉ là bưu ảnh?! Băn khoăn vì tại sao, người hàng xóm nhà mình khi nghe radio lại cứ phải mở rất khẽ? Thậm chí băn khoăn cả việc khi phải ‘khai’ lý lịch đi học, phần nói về các cô, gì chú bác, có người khai vào, rồi lại tìm cách xóa đi? Băn khoăn cả khi, lâu quá, không thấy bố cho đến chơi nhà các anh các chị họ của mình…?!

Cơ man nào là sự thắc mắc vì sao… ở cái tuổi mới lớn, trong một bối cảnh xã hội mà phải đến nửa thế kỷ sau, tôi mới hiểu rằng tại sao, và tại vì đâu…? Điều tôi tâm sự ở đây, chỉ là một trong hàng trăm những thắc mắc của quá khứ, của cái ngày xửa ngày xưa ấy đối với bản nhân.

Khi tôi dần hiểu và thấu hiểu nhiều điều của cái ngày xưa ấy, là nhờ thời gian, nhưng cũng phải khẳng định, rằng cũng phải nhờ cơ duyên với đời, với những gì liên quan đến mình, và với chính những cái ‘trăn trở’ đã đeo bám mình qua bao năm tháng. Tôi đã từng nghĩ rất nhiều về một người ruột thịt, mà chỉ đến khi người đó qua đời, tôi mới bừng tỉnh hiểu ra rằng, bác Nguyễn Phổ của tôi là ai?! Người anh ruột của cha tôi là ai?!

Bức ảnh chụp bốn anh em liền kề. Từ phải qua trái: Nguyễn Dực 1921, Nguyễn Hồ 1923, Nguyễn Phổ 1917, Nguyễn Kỳ 1918 và người anh rể Bùi Tường Trác (chồng của Nguyễn Thị Mười 1920)

Vào cuối những năm 1950, và đầu những năm 1960, tôi nhớ không quá 3 lần, tôi đã được cha tôi cho đến chơi nhà bác Phổ, tận sâu trong cùng ở ngõ Liên Trì, gần hồ Hale (Hồ Thuyền Quang bây giờ, người Hà Nội cũ quen gọi là Hale). Ngày đó, tôi đã tự hỏi, sao nhà bác mình ở chật thế? Sao bác trai lại phải đi tù? Sao trong nhà bác gái và các anh chị họ của mình chẳng có gì cả…? Và cũng chẳng thấy bác cho cái bánh hay cái kẹo, giống như khi đến những nhà bác này hay chú nọ…

Tôi thoát ly từ lúc 16 tuổi, rồi mãi đến 17 năm sau tôi mới dừng lại, không ‘lang thang’ nữa. Ơn Trời, từng ấy năm phiêu diêu, qua đủ những gian nan và khổ hạnh mà tạo hóa vẫn hay thử thách những kẻ lang bạt, kể cả trong những năm yên bình ở xứ người, và cả trong những năm đói rét của chiến tranh và bom đạn ở trong nước… Thật may mắn vì tôi không chết! May quá!

Khi cuộc sống ban cho sự thăng bằng, tôi mới bắt đầu xuất hiện khả năng nhận thức lại về những gì đã diễn ra của cái ngày xưa. Nhưng vẫn phải nhờ cơ duyên, vì cho đến những năm tháng đã thành người lớn, tôi vẫn rất mơ hồ về nguồn gốc, về gia đình, về những người họ hàng của mình. Tôi mơ hồ đến mức phải nói là xấu hổ về sự ngây ngô, vô thức, và… vậy vì sao lại thế?!

Với nhiều người, có thể sẽ là không nên khi phán xét người thân, nhất lại là những người đã sinh ra mình, và nhất là những người là bề trên của mình. Song riêng với tôi, nhìn nhận công bằng mọi việc, mọi người, mọi hành xử, mọi sự khúc mắc đều là chuyện không có gì xấu! Thậm chí nên làm, vì nếu không hiểu rõ điều mình có liên quan, thì sẽ không nhận thức được đúng, không nhận thức được đúng sẽ không ứng xử được đúng, và cũng sẽ không làm được những điều đúng đắn, và đương nhiên, sẽ chẳng giúp được cho bất cứ ai điều gì!

Tôi muốn nói, việc nhận thức mơ hồ về cội nguồn và những mối quan hệ khập khễnh trong nội tộc, căn bản là lỗi do chính các bậc sinh thành. Còn vì sao họ lại vướng phải cái lỗi đó? Đó lại là một đề tài khác!

Một thời gian khá dài, tôi đã tìm hiểu và mổ xẻ nguyên nhân này, rồi tôi đã tìm được nguồn gốc của một số sự việc cụ thể. Đây là một đề tài dài và đương nhiên là phức tạp, cho dù có người né tránh, song nó sẽ là cần thiết cho bất kỳ ai muốn có lối sống minh bạch, cơ sở của tình yêu và lòng tự tôn đối với cội nguồn. Tôi tin, minh bạch sẽ giúp cho con người ta sống thanh thản đến lúc chết!

Với tôi, lối sống ‘hiền lành’, dĩ hòa mà một số người tâm đắc, dễ dẫn đến ba phải, chính là nguyên nhân đưa đến hàng loạt những sự che dấu sự thật một cách vô tình, lối sống là hậu quả của một nền giáo dục áp đặt, khống chế bản năng phản ứng tự nhiên của con người trước những bất hợp lý của đời sống cộng đồng. Nó chính là mảnh đất dung túng cho sự vô cảm, sự hiểu lầm, làm cho các mối quan hệ trở nên hời hợt, tạo ra sự xa lánh giữa những người thân. Nguy hiểm hơn nữa, nó luôn tiềm ẩn sự ngờ vực lẫn nhau, thậm chí ngấm ngầm oán thán nhau, và như thế, khi cần, tìm đâu ra sức mạnh để cùng nhau đối phó trước những sự bất công?

Khi hiểu được ngọn nguồn của nhiều sự việc gây khúc mắc trong quan hệ nội tộc trong quá khứ, tôi đã trở nên độ lượng hơn khi nhìn nhận sự đời, không gay gắt, và quan trọng hơn, tôi tránh được sự cực đoan cả trong suy nghĩ lẫn hành động, tôi tự tin hơn để quyết định lao vào những việc cần làm!

Và đến một lúc, tôi cũng đã hiểu được, vì sao một thời gian dài, vì lý do gì mà cha tôi đã sợ cả việc nhắc đến ông nội tôi, cho dù ông tôi mất từ lúc cha tôi mới có 15 tuổi, nói gì đến chuyện bác Phổ của tôi phải đi tù, mà ngày đó, ‘Họ’ còn gán cho bác tôi nhãn hiệu: Tù chính trị!

Bức ảnh cuối cùng trước khi bị bắt đi tù của Nguyễn Phổ (đứng giữa hàng trên mặc com lê) tại số nhà 25 phố Nguyễn Gia Thiều, là nhà riêng của bà chị dâu cả (bà quả phụ Nguyễn Hải) và cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh.

Phải đến những năm cuối đời, chứng kiến nhiều cuộc tranh luận giữa cha tôi với chính các em trai tôi, đặc biệt, việc cha tôi viết hồi ký (1), tôi mới được biết đầy đủ, rằng trong 10 năm đi theo Việt Minh (1946-1956), ông đã có đến ba lần bị kết án tử hình!

Vẫn câu hỏi vì sao, cả một cuộc đời nuôi 7 đứa con lớn lên (xin không dám nói lớn khôn, vì hai phạm trù này khác xa nhau) mà hầu như ông đã không ‘dám’ kể cho chúng tôi nghe, và hiểu rõ những sự việc đó?! Vì sao ông đã phải im lặng đến mức khó hiểu, kể cả khi được các con của mình hỏi về những điều thiêng liêng nhất liên quan đến ông bà Tổ tiên? Vậy ông đã sợ điều gì?!

Cha tôi là mẫu người thích đối thoại, thích giao lưu và rất nhiều lĩnh vực làm ông say mê, vậy mà ông đã từng phải câm nín rất lâu với rất nhiều chuyện…

Tôi là kẻ cũng có được chút kinh nghiệm sống trong 17 năm lang thang như đã tâm sự, từng được đi rất xa, rất lâu và ở những môi trường khác biệt. Tôi rất biết, khi thằng người bị truy bức tinh thần, danh dự bị chà xát, hậu quả đối với từng trường hợp sẽ là những gì? Điều này không có công thức.

Khi mới tròn 30 tuổi, tôi đã từng bị triệu tập đột ngột lúc 20h00, và phải có mặt tại một cuộc họp đột xuất cùng ban lãnh đạo đơn vị được bắt đầu từ 21h00 cùng ngày. Cuộc họp đã kéo dài đến 04h45 sáng hôm sau, nội dung họp chỉ để ép tôi phải nhận ‘tội’, rằng đứng trong hàng ngũ lãnh đạo giai cấp công nhân, nhưng tác phong lối sống Tiểu Tư sản! Điều mà tuyệt nhiên, tôi không hề có ý thức gì và cũng không liên quan gì như quy kết của họ.

Tôi hiểu cái hậu quả khi chịu những sức ép tinh thần, của sự ám ảnh tâm lý, sự hành hạ về nội tâm, và tất cả những điều đó đều có thể dẫn đến một ngày: Thấy cái gì bất thường cũng sợ… Khi hiểu ra điều này, tôi thương cha tôi nhiều lắm!

Tôi xin thú nhận, phải mãi đến những năm cuối đời của bác Nguyễn Phổ (1917-1997) của tôi, tôi vẫn hiểu mơ hồ về người bác ruột của mình.

Khốn nạn (tôi thích từ này, do ông nội tôi từng giải thích vì sao, khi dịch cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Victo Hugo Les Misérables – Những kẻ khốn nạn, ông tôi đã dùng từ ‘khốn nạn’ thay bằng từ ‘khốn khổ’. Ông nói, khốn nạn ở đây là khốn khổ khốn nạn, chứ không phải là khốn nạn mất dạy).

Phàm khi cơn bĩ cực qua đi, con người ta nhìn lại quá khứ đôi khi cho rằng: Chuyện ngày xưa ấy mà! Thậm chí còn có người nhận thức: Quá khứ giống như một trò đùa, và một cái chép miệng là xong… Thế rồi, đời thường lại cuốn họ theo cuộc sống hàng ngày với những mong ước nhỏ nhoi, chỉ mong cho có miếng ăn, có cái mặc, và người ta không còn cho rằng, việc phải cắt nghĩa cho thế hệ đi sau mình hiểu ngọn nghành những gì là vướng mắc trong quá khứ, chính là trách nhiệm giáo dục có tính linh hồn đối với những người thân!

Đành rằng, có những người không muốn nhìn lại những nỗi đau trong quá khứ, phần vì sự đớn đau mà khi nhắc lại, họ lại thấy nghẹn lời, không nói ra nổi, phần vì bị ám ảnh bởi những nỗi sợ hãi vô hình, và lâu dần, nó thực sự trở thành quá khó để nhắc lại! Cũng có người trong cuộc, đã không đủ lòng tin ở người nghe sẽ có khả năng chia sẻ và thấu hiểu được sự việc, nên ngại ngùng không muốn nói ra cụ thể. Rồi cứ thế, năm tháng cứ trôi đi…

Thật kinh hoàng để ta tìm và hiểu rằng: Vì sao ngày đó lại sảy ra những chuyện như vậy? Bản chất của những sự việc đó là gì? Họ hành xử như thế với ta lúc đó để nhằm mục đích gì?

Một xã hội tiến bộ, là một xã hội luôn đòi con người ta phải tìm cách giải thích được các câu hỏi: Vì sao?! Khi đạt được điều này, nó sẽ là cơ sở để giúp thế hệ kế cận hiểu được, thế nào là vô lý? Thế nào là bất công, là sự xảo quyệt, là tàn nhẫn… Khi hiểu đúng ‘vì sao’, người ta sẽ biết, đó là âm mưu đen tối của những kẻ hà tiện, của sự độc ác, ý đồ của những kẻ chủ trương bịt miệng nhân gian để trục lợi.

Hiểu được đầy đủ sự thật, con người sẽ có được lòng tin, quyết tâm và ý chí để bảo vệ chân lý. Thầy giáo người Bungari của tôi, ông Radko Ivanov Milchev đã từng nói với tôi rằng: Người với Người là chó sói! Và ngày đó, tôiđã phản bác kịch liệt, nhưng khi ấy… tôi mới có 19 tuổi.

Cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh ngồi giữa cùng các con cháu chụp năm 1937 tại Hà Nội.

Cái kết xót xa

19h45 phút ngày 16 tháng 12 năm 1997 (Tức ngày 17/11 lịch Âm), bác Nguyễn Phổ của tôi trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng. Đúng vào thời khắc đó, tôi vô tình là người ngồi trước mặt bác, và chỉ trước đó 15 phút, bác vẫn còn bảo tôi: “Lân Bình đấy à?!”. Tôi trở thành nhân chứng cho sự vĩnh biệt của một kiếp người, và tôi đã tự hỏi: Hình như giữa bác và tôi có điều gì đó thì phải…?!

Tôi tiếc thương bác cũng như những người con cháu trong gia đình khi mất một người thân, tôi vẫn ‘ngu’ mãi cho đến ngày đưa tang bác trai của mình.

Đám tang

Tang lễ được tổ chức tại số 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội. Theo phân công, công việc của tôi là đứng ở vị trí bàn ghi, nhận và hướng dẫn khách đến viếng. Theo tập quán, viếng đầu tiên sẽ là toàn thể tang quyến, lễ, bái vĩnh biệt người quá cố, tiếp theo mới là họ hàng rồi đến khách thập phương.

Tôi đang cúi mặt xắp xếp giấy bút tại bàn tiếp đón các khách đến viếng, và đợi để gia đình, họ hàng lễ xong, sẽ chính thức mời những khách đến viếng. Bỗng một giọng nói khô và đanh, đầy chất quân lệnh: “Anh xếp cho chúng tôi vào viếng đầu tiên nhé!”, tôi thoáng thấy khó chịu vì rõ ràng, tôi đang bị áp đặt.

Tôi vốn là kẻ đôi khi cũng ngông nghênh, những năm ở quân ngũ, khi chứng kiến chất giọng như tôi vừa gặp, thường là trong bối cảnh căng thẳng, chuẩn bị cho những điều phiền lụy không dự báo được. Tôi lập tức nghĩ đến việc phản ứng sự ‘ra lệnh’ của đối phương. Tôi có lý lẽ, bởi đây là đám tang do gia đình tổ chức. Trong bối cảnh tang tóc, làm sao có chuyện ‘ra oai’ như vậy chứ?

Tôi vụt ngẩng mặt lên, thì ôi… ôi… một vòng hoa to cỡ quốc gia (nhiều năm là nhân viên cho cơ quan ngoại giao, tôi hiểu trong công tác lễ tân, thế nào là các quy chuẩn cấp Quốc gia), bên cạnh là bốn sỹ quan Quân đội trong tư thế nghiêm trang với vẻ mặt trịnh trọng. Tôi đọc nhanh dòng chữ trên băng tang vắt ngang vòng hoa: “Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng kính viếng”.

Tôi bàng hoàng, bởi lẽ tôi đâu có khái niệm gì, rằng bác mình là ai? Đã từng làm gì? Lẽ gì mà Bộ Quốc phòng mang vòng hoa cỡ Quốc gia đến viếng? Là kẻ có 8 năm quân ngũ, tôi thật sự xúc động, trân trọng, ngầm hiểu ra lý do của lời đề xuất có tính áp đặt vừa xong của người sỹ quan nọ.

Tôi đâu có biết, bác Phổ tôi là người đã kết bạn với nhà tình báo nổi tiếng của Cách mạng Việt Nam Trần Quốc Hương (tức Mười Hương 1924-2020) từ năm 1945, rồi cũng chính ông Mười Hương đã dẫn dắt để bác tôi ra nhập đội quân tình báo của quân đội Nhân dân VN. Tôi cũng khồng hề biết, nhờ cái tài nghiệp vụ trong lĩnh vực ấn loát, bác đã in ra ngàn vạn tờ truyền đơn cùng nhiều tài liệu quan trọng đặc biệt phục vụ cho công cuộc Cách mạng tháng Tám 1945…

Có lẽ sự ngây ngô, vô thức về người bác ruột của mình, 100% là hậu quả của một quá trình dài lịch sử, tồn tại trong môi trường thiếu sự dạy giỗ như tôi đã tâm sự ở trên… Còn việc vì sao người lớn trong nhà đã không dám dạy bảo chúng tôi về những sự thật đó, xin hẹn trong những bài viết khác.

Buổi tang lễ diễn ra trong không khí trang trọng, nhưng nó có gì đó nặng nề khi đến phần truy điệu. Thực tế cuộc sống cho tôi thấy, phần nghi lễ này ở Việt Nam lâu nay, đa phần đều mang tính thủ tục và hầu hết đều na ná giống nhau về nội dung. Tôi đã đọc trên báo chí viết mỉa mai về chi tiết này như sau: “Để được nghe những lời tốt đẹp, để được ngợi ca không cần sự thật, bạn hãy nghe các bài điếu văn trong các buổi tang lễ!”.

Tôi ngây người và thầm nghĩ, liệu đám tang của bác mình có giống như tình trạng công thức mà người đời đang áp dụng không? Có phải đó là một lối sống tự dối mình không? Trong nhiều trường hợp, người ta đã lặp đi lặp lại khi nói về những người quá cố những nội dung giống nhau, cho dù họ đều có những quá khứ khác nhau. Còn người dự tang bất chấp việc biết rõ bản chất thật của nội dung này, nhưng không mấy ai dám than phiền hay thay đổi, hầu hết đều đồng ý nghe những lời tán tụng không hoàn toàn thật trong bối cảnh ấy. Đáng buồn hơn, nhiều người đã tự biện minh rằng: Thôi, đã có ‘Tổ chức’ lo!

Ông Phạm Thanh Chúc đọc điếu văn tại tang lễ Nguyễn Phổ ở Nhà tang lễ Thành phố số 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội.

Thật hay vì tang lễ của bác Nguyễn Phổ của tôi đã không hề diễn ra như vậy. Giờ truy điệu, mọi người tề tựu đông chật cứng nhà tang lễ. Không khí trầm mặc và tôi nhận ra, sự yên lặng không phải vì mọi người bị yêu cầu phải trật tự như thông lệ. Sau này nhìn lại, tôi hiểu, đó là sự yên tĩnh của bầu trời trước cơn bão.

Gia đình tang chủ kính cẩn mời một cụ già bước lên đọc bài điếu văn. Đám đông lập tức xuất hiện nhiều tiếng xì xào: Cụ ấy già quá, cụ ấy yếu lắm, sao lại để cụ đọc, sao không cử người trẻ hơn, có sức lực hơn một chút…? Có người còn nói: Cụ này năm nay 90 rồi, khổ cụ vì cụ yếu lắm…

Tôi nhớ chính xác, chị Phương Mỹ, người con gái đầu của bác Nguyễn Phổ của tôi phúc đáp rất khẽ: Cụ nói với gia đình và Ban tổ chức lễ tang rằng: “Đọc điếu văn cho ông Phổ phải là tôi, không để ai đọc hết!”

Đám tang thực sự trở nên tĩnh lặng, cụ già hắng giọng rồi đọc to và rõ ràng, thay vì sự lo lắng, suy diễn của mọi người trước đó vài phút, tất cả đã tỏ ra ngạc nhiên và lắng nghe từng chữ.

Không khí nín lặng, cảm giác như đang được nén lại, một vài người đã không giữ được thái độ kìm nén, và bật ra những tiếng chậc lưỡi, xuýt xoa khi nghe người đọc điếu văn nhấn mạnh những chi tiết hệ trọng trong cuộc đời người quá cố:

“Nguyễn Phổ, bằng tài năng nghiệp vụ hiếm có, là người đã trực tiếp chế tác và hoàn thành bản kẽm để in đồng tiền đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946… Ông đã hiến trọn tài năng và trí tuệ cho cuộc Cách mạng của dân tộc suốt 9 năm kháng chiến khi là tình báo quân đội, nằm ngay trong lòng địch giữa Hà Nội”.

Thế rồi… Giọng đọc của người là cách mạng lão thành ở tuổi 90 đó, đã hạ trầm hẳn xuống: “Ngày 29/9/1955, ông Nguyễn Phổ bị bắt với tội danh, làm gián điệp cho Đế quốc Mỹ… và đã chịu tù oan 17 năm 1 tháng…”

Không khí tang lễ bỗng thay đổi, bắt chấp sự uy nghiêm thường phải có, bắt đầu xuất hiện tiếng sụt sùi và nấc nghẹn ở góc này góc kia do nhiều người thân với người quá cố vốn vẫn cất giữ những nỗi đau sâu thẳm trong tình cảm, lúc này đã không còn kìm nén được.

Nhưng đến đoạn cuối (điếu văn dài 4 trang), bỗng người đọc không còn bình tĩnh nữa, đặc biệt, với một người già đã tròn tuổi 90, sức lực còn được bao nhiêu, khi cụ còn nhiều hơn người quá cố đến 10 tuổi, vậy nhưng, người đàn ông này đã dồn tất cả khí huyết còn lại của cái thân già, gương mặt ông đỏ lên và ông đọc to như gào, như hét lên trước micro trong sự thảng thốt của mọi người:

“Anh Phổ ơi, sao xót thương quá cho một kiếp người đầy oan trái..!”

Người đọc điếu văn đến đây trở nên run rảy, nước mắt cụ chan hòa cùng với tiếng nức nở… Có hai người đứng cạnh cụ vội giơ tay đỡ hai bên, rồi cả nhà tang lễ cùng đồng thanh òa lên khóc, tiếng khóc lan toả, âm vang cùng những giọt nước mắt cay nồng với vị chát của nỗi xót xa, của sự oan nghiệt, nó đã tự do tuôn chảy mà không có lực cản nào có thể ngăn nổi.

Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được chứng kiến tiếng khóc tập thể (Lần đầu là câu chuyện dài, khi tôi lên đường vào chiến trường B, xin được hẹn các quý vị và các bạn vào một dịp khác).

Lòng dạ tôi buồn tan hoang, cảm giác của một nỗi buồn không bến bờ, nỗi buồn cả cho sự ăn năn muộn màng, vì lúc đó, đã gần năm chục tuổi đầu, mà không được biết đầy đủ cái nỗi đau khủng khiếp của một người ruột thịt. Tôi thoáng giận những người thân của tôi, vì đã không dạy bảo mình về mọi điều trong đời…

Đám tang kết thúc trong không khí nặng nề, đầy nỗi đau thương mà không thể nói hết một lúc… Tiếng khóc của đám tang ông Nguyễn Phổ, cứ nghẹn ngào trong tâm khảm những người chứng kiến, cái vị mặn của nước mắt vẫn đọng trên bờ môi của những người thân rất nhiều ngày sau buổi tiễn đưa người quá cố.

Sau đám tang lịch sử đó, tôi mới được biết, người già 90 tuổi đứng ra yêu cầu được là người đọc điếu văn, là ông Phạm Quang Chúc, là người anh ruột bà Phạm Thị Cúc, vợ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906-2000), người đã từng quý mến và chứng kiến những hoạt động, hy sinh của bác Nguyễn Phổ trong những năm thời chống Pháp.

(Hết phần Một)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network