Câu chuyện thứ ba
NƯỚC ĐỨC VỚI NGUYỄN VĂN VĨNH
Bài 1: Câu chuyện thứ nhất
Bài 2: Câu chuyện thứ hai
Ngày xưa
Cuối thế kỷ 19, khi người Việt Nam chưa có chữ viết thống nhất, tại Nam kỳ, vào năm 1882 xuất hiện một người gốc Đức quốc tịch Pháp, ông sinh năm 1851, có tên là François Henri Schneider.
Gần 20 năm lăn lộn, thiết lập, xây dựng ngành công nghiệp in ấn và xuất bản sách báo, F. H. Schneider chỉ đạt được những kết quả ít ỏi, không mang tính hoạch định, tính chiến lược lâu dài. Các cơ sở in ấn do ông kết hợp với chính quyền đương thời tạo dựng, chỉ dùng chữ Pháp và chữ Hán, thứ chữ viết mà một người lão luyện như Schneider thấy rõ, rằng nó không dành cho số đông người An Nam, vì khó phổ cập do người dân bị mặc cảm chính trị, bởi đó là con chữ của kẻ xâm lược. Mặt khác, dân chúng khó tiếp thu cả hai loại chữ viết đó do dân trí và mức sống quá thấp. Rõ ràng, thiếu con chữ phổ thông, nền công nghiệp in ấn sẽ dựa vào đâu để phát triển?!
Schneider ra Bắc kỳ, một mặt phục vụ việc mở rộng thị trường, mặt khác, phục vụ nhu cầu của hệ thống hành chính cai trị đương thời. Nhưng quan trọng hơn, ông hy vọng tìm được cộng sự đắc lực, tâm huyết, tài năng, để cùng gây dựng nghiệp lớn, phát triển ngành xuất bản với loại chữ viết phù hợp, dễ học, học không quá tốn kém đối với dân chúng. Schneider cần tồn tại lâu dài, phát triển vững chắc. Schneider đã có dư thời gian chiêm nghiệm khi ông đã từng hợp tác với Petruts Ký và Huỳnh Tịnh Của, trong giai đoạn đầu khi lập nghiệp ở Nam kỳ.
Và, Tạo hóa đã không vô cớ, mang đến cho F. H. Schneider, một chàng thanh niên người ‘nhà quê’, một người có xuất thân đơn giản, không tham vọng tiền bạc, quyền lực, nhưng đầy năng lực bẩm sinh, tâm huyết với điều mình nhận thức, thực lòng với dân chúng, và đó là Nguyễn Văn Vĩnh, khi cậu mới hơn 20 tuổi.
Chỉ sau vài năm ở Bắc kỳ, Schneider đã thấy chất chứa hi vọng khi dùng phép thử, đặt người ‘nhà quê’ này làm chủ bút tờ báo đầu tiên in chữ Việt dùng mẫu tự La Tinh, loại chữ viết chưa được xã hội công nhận, tờ Đăng Cổ Tùng Báo 1907.
Người ‘nhà quê’ đó đã thực sự tâm đắc với nghiệp mới khi xác định chắc chắn rằng, đây thực là cỗ xe duy nhất, chở được cái con chữ đi xa, tới tất cả mọi người là đồng bào của ông, ở mọi vùng miền ở một đất nước nghèo khó, lam lũ. Nguyễn Văn Vĩnh tin, điều này nhất định sẽ giúp đồng bào của ông đổi thay, cái thay đổi đầu tiên ông xác định, là cách suy nghĩ của mỗi con người khi họ biết chữ.
Một trong hàng trăm tấm bưu ảnh được phát hành đầu thế kỷ 20 của xưởng in nổi tiếng do F. H. Schneider điều hành. (nguồn internet)
Tiến bộ Ròng rã từ năm 1907 đến năm 1917, nhờ sự đứng vững trong công việc in và phát hành báo, Nguyễn Văn Vĩnh đã làm chủ của năm tờ báo khác nhau (trong đó có hai tờ tiếng Pháp). Nghiệp làm báo và in sách dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, như đánh thức đời sống văn hóa, tinh thần và trí tuệ của một dân tộc chỉ quen bán lưng cho Trời, và bán mặt cho Đất, quen cầm gươm giáo, gậy gộc khi căm phẫn kẻ thù. Sự thức tỉnh này, đã chứng minh với đồng bào của ông, rằng có chữ sẽ có tri thức, có tri thức sẽ có trí khôn, trí tuệ, và sẽ kiếm được miếng ăn mà không nhất thiết phải chân lấm tay bùn, có trí tuệ sẽ thắng khi phải đối phó với kẻ hà hiếp mình, áp bức mình mà không phải chỉ có gươm giáo, súng ống mới xua đuổi được chúng. Năm 1919, khi Triều đình Phong kiến Việt Nam chính thức bãi bỏ chính sách giáo dục từ chương, khoa cử bằng chữ Hán, nhìn từ góc hẹp, đây chính là phần thưởng cho Nguyễn Văn Vĩnh sau hơn 10 năm vật lộn với con chữ tiếng Việt dùng chữ cái La Tinh, nhờ cái cỗ xe chuyển tải nó là báo chí, là sách dịch, là kiên trì chứng minh cùng sức ép tinh thần, khuyến nghị nhà cầm quyền lấy chữ quốc ngữ làm gốc trong giáo dục. Với quyết định lịch sử này của thể chế chính trị, xã hội Việt Nam bắt buộc phải áp dụng mô hình nền giáo dục hiện đại, ảnh hưởng của văn minh phương Tây, và lấy nền tảng là chữ viết tiếng Việt dùng mẫu tự chữ cái La Tinh, nay gọi là Quốc ngữ. Chứng minh cho thành công này của Nguyễn Văn Vĩnh, là sự ra đời tờ nhật báo đầu tiên của lịch sử báo chí Việt Nam dùng chữ Quốc ngữ, đó là tờ Trung Bắc Tân Văn 1919, in ở Hà Nội. Trải qua một chặng đường dài, sau gần 40 năm lưu lạc ở cái đất nước nông dân, có gần 20 năm gắn bó với người ‘nhà quê’ Nguyễn Văn Vĩnh, ngài F. H. Schneider đã thấm mệt khi bước sang phía bên kia sườn dốc của cuộc đời. Như quy luật tự nhiên, sự già nua về sinh học của ngài Schneider, cũng chính là sự lạc hậu và xuống cấp của máy móc, của thiết bị kỹ thuật do ông mang tới, khai thác và sử dụng từ gần nửa thế kỷ trước, điều mà Nguyễn Văn Vĩnh không thể bất chấp để đi tiếp con đường ông dự định. Đầu những năm 20, ngài F. H. Schneider quyết định từ biệt cái đất nước mà ông đã gắn bó gần trọn đời để trở về cố quốc. Điều này đã làm nảy sinh một quyết định tày trời của Nguyễn Văn Vĩnh, khi ông được kế thừa một phần cái di sản bao gồm cả tòa soạn và xưởng in do Schneider để lại, đó là việc quyết tâm thay thế các thiết bị kỹ thuật bằng dây chuyền công nghệ mới, đáp ứng mục tiêu phải phát triển vượt bậc về văn hóa, thỏa mãn nhu cầu xây dựng một xã hội tri thức, cơ sở để đưa đất nước lên vị trí ngang hàng về trí tuệ so với các quốc gia trong khu vực. Gọi là tày trời, bởi lẽ Nguyễn Văn Vĩnh đã ‘ngây thơ’ lao lên dẫn đường trong đoàn quân khai trí khi sống trong một thể chế cường quyền, vốn không thiết tha gì với sự tiến bộ của người dân về văn hóa, tư tưởng. Họ chỉ đầu tư, khuyến khích phát triển một vài lĩnh vực văn hóa xã hội, nhưng phải trung thành với mục đích phục vụ cho chính sách cai trị, kẻ nào muốn ‘dâng hiến’, can dự, nhất thiết phải là tay chân, đệ tử, là đồng đảng với Nhà Cầm quyền! Bắt chấp cường quyền, Nguyễn Văn Vĩnh ung dung dấn thân theo con đường mình đã chọn… Hôm nay, nhìn lại, chúng ta xin được gọi, đó là sự ‘ngây thơ chính trị’ do tự tin. Ông đã theo đuổi cái lý tưởng mà kẻ cầm quyền đã hoạch định rõ chủ trương phải tiêu diệt, vì họ cần dân tộc này tiếp tục mê muội, họ không cần sự giác ngộ, sự phản biện khi dân chúng hiểu thế nào là bình đẳng, là dân chủ, là tự do. Làm sao để Nguyễn Văn Vĩnh không rơi vào cái bẫy nham hiểm của kẻ cai trị, kẻ nắm đằng chuôi, vốn có bản chất diều hâu trong cấu trúc của một xã hội chính trị cường bạo. Nước Đức lại xuất hiện trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh vào năm 1922, nhân việc được cử đi Pháp lần thứ hai dự Hội chợ Thuộc địa. Lần ấy, Nguyễn Văn Vĩnh đã bí mật cùng Phan Văn Trường (1) mò sang tận Gutenberg, trung tâm của ngành công nghiệp in ấn ở nước Đức phát triển, để thăm quan, tìm hiểu những tiến bộ mới nhất của ngành in và xuất bản. Nguyễn Văn Vĩnh đã bị hấp lực từ những tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực in ấn, xuất bản, ông liều lĩnh lên kế hoạch mua sắm loạt dây chuyền in ấn thế hệ mới, thay thế những gì mà Schneider để lại. Một nguyện vọng chính đáng, một định hướng tuyệt vời hướng đến sự phát triển một xã hội văn minh và tiến bộ. Song như đã trình bày, Nguyễn Văn Vĩnh không hợp tác với chính phủ, ông muốn giữ cho cái ngực được trinh, ông chỉ nhìn vào cái khối tài sản để lại của Schneider, lấy đó làm vốn thế chấp với ngân hàng, vay thêm tiền cùng với sự hùn hạp của những người bạn là các cộng sự tâm huyết với mình, để chi trả cho cuộc cách mạng công nghệ in ấn, phát hành mà ông định hướng. Và, đúng là một sự lãng mạn cách mạng…! Chính quyền Thực dân lại một lần nữa, coi việc Nguyễn Văn Vĩnh ‘lạc quan’ vay tiền là cơ hội có một không hai, để thuyết phục ông trở thành cộng sự đắc lực, toàn tâm toàn ý phục vụ cho chính sách đô hộ của Chủ nghĩa Thực dân. Nhưng một ngày, khi Nguyễn Văn Vĩnh cương quyết từ chối, kẻ cường quyền đã lấy đó là lý do buộc tội ông bất hợp tác, chống lại chính quyền, và kết án ông không công khai là ‘phản động’! Họ đã trả thù ông đến tan cửa nát nhà, khuynh gia bại sản, dập tắt hoàn toàn cái sự nghiệp khai mở nền văn minh cho dân tộc mình, mà ông đã học được từ một người Đức. Cuối cùng, ông đã phải bỏ mình một cách cô độc, không người thân bên cạnh, ở nơi thâm sơn cùng cốc, nơi người thường không đến được.
Bức ảnh chụp bìa cuốn sách Đức – Việt của nhà báo Nicolaus Scmidt xuất bản năm 2018
Bức ảnh Nguyễn Văn Vĩnh (đứng thứ ba từ phải sang trái) cùng các cộng sự trong Ban Biên tập báo Trung Bắc Tân Văn, được in trong cuốn sách Đức – Việt của nhà báo Nicolaus Scmidt.
Di Sản ngẫu nhiên? Năm 1955, lại xuất hiện ở Việt Nam một người Đức khác, ông là nhà văn, nhà báo, ông là Franz Faber, sinh năm 1916. Ông Faber có sự khác, ngược lại về xuất thân với ngài Schneider. François Henri Schneider, người gốc Đức quốc tịch Pháp. Franz Faber, người gốc Pháp quốc tịch Đức. Năm ấy, tại Hà Nội, trong tiếp xúc với Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước VNDCCH, ông Faber đã được biết đến một di sản văn hóa tiêu biểu của người Việt nam, mà nhờ có sự khởi sự của một người đồng hương của ông cách đó nửa thế kỷ, tác phẩm đó mới đến được tay người dân Việt bằng tiếng Việt, nhờ cái nền công nghiệp in ấn, xuất bản, kiệt tác văn học đó đã được in bằng cả tiếng Pháp, và trở thành niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, từ vị Chủ tịch nước, đến người nông dân trồng lúa… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không vô cớ trao tặng ngài Franz Faber cuốn Truyện Kiều được dịch ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, cùng với ý nguyện, rằng tương lai sẽ có Truyện Kiều bằng tiếng Đức! Nhờ động thái này, người Đức đã được biết đến kiệt tác văn học của dân tộc Việt Nam, khi ông Farber đã dịch toàn bộ Truyện Kiều sang tiếng Đức từ bản dịch tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, và cho ra mắt công chúng Đức năm 1964. Vậy, hóa ra 50 năm đầu ở thế kỷ 20, sự liên hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh với người Đức, với nước Đức, quả thật là mối nhân duyên nhìn từ một góc cụ thể. Phàm ở đời, con người ta dù giỏi đến đâu, hay tài đến mấy mà không có nhân duyên với điều gì đó, với ai đó, thật khó để thành cái gì đó….Bài báo trên báo Nhân Dân ra ngày 21/4/2009
Hôm nay Thế rồi, năm 2018, bất chấp những diễn biến phức tạp trong quan hệ chính trị giữa nước Đức và Việt Nam, ngày 2 và 3.11, tại Hà Nội, bên Hồ Gươm, đã tổ chức ‘Lễ hội Đức: Trải nghiệm nước Đức ở Hà Nội’ gồm 40 gian hàng của các tổ chức, công ty của CHLB Đức tại Việt Nam. Trong hai ngày lễ hội, bên cạnh những tiết mục âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa, thời trang, đặc biệt là giới thiệu bia Đức… Người dự còn có cơ hội tiếp cận với những ấn phẩm có nội dung dành riêng cho mối quan hệ Đức – Việt. Tôi cầm một cuốn sách màu đỏ nổi bật hai chữ ĐỨC – VIỆT, với dòng tóm tắt bằng tiếng Đức và tiếng Việt: “Những trang tiểu sử Đức-Việt như tấm gương phản ánh lịch sử” của nhà báo, nhà nhiếp ảnh danh tiếng Nicolaus Scmidt in bằng ba thứ ngôn ngữ Đức-Việt-Anh. Tôi lật từng trang của cuốn sách, là những bài viết giới thiệu các gương mặt người Việt Nam tiêu biểu, họ là những tấm gương điển hình trong học tập, lao động và sáng tạo suốt nửa thế kỷ qua hoặc trên nước Đức, hoặc ở Việt Nam, và chính họ, những người đã có cơ may tiếp thu kiến thức và thừa hưởng những kết quả của lịch sử kết nối, trở thành những nhân tố quan trọng, xây dựng, đóng góp, giữ gìn mối quan hệ sâu sắc, lâu đời Đức – Việt. Thật hay, vì hầu như những nhân vật được giới thiệu trong cuốn sách, đều là những người thường, rất bình thường, tôi nghĩ vậy, vì tôi không thấy có mấy người trong số họ xuất hiện trên các cơ quan truyền thông cổ động ở Việt Nam. Tôi giật mình, khi nhìn thấy bức ảnh đen trắng, khổ rộng, chụp dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các cộng sự ở số nhà 24-26 phố Orleans (nay là Phùng Hưng – Hà Nội), trong buổi lễ chuyển giao nhà in Trung Bắc Tân Văn của François Henri Schneider cho Nguyễn Văn Vĩnh vào năm 1919. Tôi thầm nhận thấy sự đặc biệt vì bức ảnh không ghi chú thích. Nhưng có lẽ, không nhất thiết phải tìm hiểu nguồn cơn của việc một cuốn sách, in một bức ảnh trang trọng, mà không cần giải thích. Tôi tin rằng, người Đức không bao giờ làm một việc gì vô cớ, nhất là trong ứng xử văn hóa. Trường hợp giản dị nhất để cắt nghĩa cho việc này, tôi đồ rằng, chắc vì những gì đã diễn ra trong cuộc đời và sự nghiệp văn hóa của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, liên quan mật thiết đến người Đức, nước Đức. Tôi tự thấy có lý, vì nhìn lại chiều dài của mối quan hệ định mệnh giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Schneider, rõ ràng là sự gắn chặt với lịch sử in ấn, phát hành của Việt Nam ở thế kỷ 20. Tôi thầm cảm ơn người Đức, cảm ơn ngài François Henri Schneider, nhà báo Franz Faber và quê hương Gutenberg…. Và hôm nay là nhà báo, nhà nhiếp ảnh Nicolaus Scmidt. Tất cả những điều này, không chỉ có giá trị nền tảng với dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, mà còn đối với nhân loại nói chung, và dân tộc Việt Nam nói riêng khi nhận thức về giá trị của việc in ấn và phát hành: ‘Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần….(2)’. Thật có lý khi chúng ta nghe lại lời phát biểu tại buổi họp báo sáng 30.10.2018 của ngài Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền CHLB Đức tại Việt Nam, Christian Berger: “Lễ hội Đức là dịp để tất cả mọi người tham dự trao đổi với các cơ quan, tổ chức chính trị và văn hóa của Đức, cũng như các công ty Đức và tìm hiều nhiều hơn nữa về nước Đức. Sẽ có 40 gian hàng với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng dành cho nhiều đối tượng khác nhau từ người già, người trẻ, học sinh, sinh viên, cựu lưu học sinh, những người quan tâm đến nước Đức hoặc những người đơn giản muốn hiểu thêm về nước Đức….” (3). Vâng, và tôi cũng là một trong những người quan tâm đến nước Đức!
Ảnh buổi họp báo ngày 30.10.2018, do ĐSQ CHLB Đức tổ chức trước Lễ Hội Đức. (Ảnh trang tin của ĐSQ Đức)
Chú thích 1: Phan Văn Trường (1876-1933), người làng Đông Ngạc Từ liêm, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp và thành luật sư, ông làm phiên dịch ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Ông sang Pháp theo học ngành luật tại Đại học Sorbonne, Paris rồi làm luận án Tiến sĩ về luật hình, trở thành tiến sĩ luật học đầu tiên của Việt Nam. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, ông học tiếp và đỗ Tiến sĩ luật khoa, mở văn phòng Luật sư tại Paris. Lúc này ông hoạt động trong nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành… Ông là một trong bốn người ký tên bản “Revendications du peuple annamite” (‘Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam’ hay còn gọi là ‘Yêu sách của nhân dân Việt Nam) năm 1919, với bút hiệu Nguyễn Ái Quốc, và ông được coi là ‘kiến trúc sư’ của văn bản này. (Bách khoa Toàn thư mở). Chú thích 2: Trích diễn văn của Nguyễn Văn Vĩnh tại buổi lễ thành lập Hội Dịch sách, được tổ chức tại Hội Quán Trí Tri ở 59 (nay là 47) phố Hàng Quạt, Hà Nội, vào ngày 4/8/1907. Đăng Cổ Tùng Báo số ra ngày 15 và 22/8/1907). Chú thích 3: Báo Thời Đại ngày 30.10.2018. NGUYỄN LÂN BÌNH. Kết thúc loạt bài liên quan đến chủ đề “100 NĂM TRƯỚC, CHẤM DỨT THI HỘI (1) và THI ĐÌNH (2), có MỘT NGƯỜI VIỆT NAM MÃN NGUYỆN”.



One Response
Bài viết hay quá , mở rộng thêm tầm nhìn cho người Việt thời nay về lịch sử xa xưa chữ Việt cùng sự góp công quý báu của nhiều nhân vật ngoại quốc đáng kính và những Danh nhân người Việt đáng tự hào của dân tộc . Họ sống mãi cùng mỗi người qua từng nét chữ , đọc và viết hàng ngày của cả dân tộc trên đất nước Việt Nam .