KIÊN NHẪN, 100 NĂM VẪN ÍT? – Bài 2

Bài 1 Câu chuyện thứ hai Tâm tư Có không ít người mắc tâm lý sống, nghĩ theo thói quen, không bận tâm đến nghĩa vụ bản thân khi tiếp cận với một cá nhân khác có nhận thức khác mình, hoặc đứng trước một sự việc chưa tìm được sự chia sẻ, đồng cảm của người liên quan, người đối diện, và họ lập tức than vãn rằng: ông không hiểu tôi… Bà không hiểu tôi… Mọi người không hiểu tôi…! Vâng… vậy tại sao tôi phải hiểu ông, hiểu bà, phải hiểu việc ông mong muốn, thực hiện… Và khi hiểu được việc đó, liệu sẽ giúp ích gì cho tôi? Kẻ than vãn, đã không nghĩ rằng, mình có lỗi gì không, trong việc đã để người khác hiểu sai, hoặc không hiểu mình. Tôi đọc trong giáo trình môn Y học (vô tình), ngành Y khoa gọi đó là một biểu hiện bệnh lý của Tâm thần học! Trong thực tế, kiểu người đó tuyệt nhiên không bận tâm đến điều ngược lại, rằng vì sao, mình ‘bắt’ người khác phải hiểu mình? phải hiểu chuyện này, việc kia của mình….? Mà không nghĩ rằng, muốn ai đó hiểu mình, là trách nhiệm và nghĩa vụ của chính bản thân mỗi cá nhân, kẻ muốn người khác hiểu đúng mình. Tôi và chúng ta đã làm gì, để giúp những người khác hiểu được mình? Hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ, điều sẽ đem đến sự chia sẻ, gắn kết và tôn trọng nhau trong cuộc sống. Ai cũng cần nhớ, mình là gì đối với người mình cần được họ hiểu? Mình có đem lại những điều phù hợp, tốt lành và có ích, cho những người liên quan? Để mong rồi họ sẽ hiểu mình! Chúng ta không bàn đến, loại người không có lối sống rành mạch, hành xử thiếu công tâm, và sống thiếu lòng tin với cả những người thân, người chung quanh mình, nhưng vẫn cao giọng ngay cả khi cần sự cảm thông của người khác, rằng mọi người không hiểu tôi! Việc giúp người khác hiểu mình, hiểu sự việc liên quan đến mình, là một chặng đường dài không đo đếm được, và cũng không có công thức. Tôi tin rằng, chỉ có lòng trung thực, lao động kiên nhẫn, sẽ hi vọng được mọi người hiểu mình, cùng với ý nghĩa, giá trị của việc mình làm, và đón nhận nó. Góc nhìn Từ những thập niên 50, 60 và 70, của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam (đặc biệt là phía Bắc Việt Nam) tồn tại trong hệ ý thức tư duy duy ý chí. Cuộc sống chỉ có mục tiêu duy nhất là: sống để chiến đấu, bằng mọi giá để đạt được điều được gọi là chiến thắng. Điều này khi nhìn lại, thiếu tính hợp lý trong chiến lược tư duy sinh tồn. Với các cuộc đối đầu, vấn đề không chỉ là phải thắng. Chúng ta nhìn lại cuộc đụng độ lịch sử giữa Napoleon với nước Áo cuối thế kỷ 18. Để tránh một cuộc chiến tàn khốc có thể sảy ra, để giữ gìn những di sản văn hóa nghệ thuật, kiến trúc, xây dựng do cha ông để lại, Triều đình Áo đã quyết định chấp nhận đầu hàng trước đội quân Napoleon. Rõ ràng, trong trường hợp này, ‘thua’ không có nghĩa là xấu, bởi lẽ hôm nay, Thành Viên vẫn huy hoàng và lộng lẫy. Nhân loại khi tiếp cận, đã thán phục những thành quả vĩ đại trong lao động và sáng tạo của nước Áo, của người dân Áo trong quá khứ. Mọi người đều thán phục lòng dũng cảm của các bô lão trong Triều đình Áo, ngày đó đã chấp nhận chịu ‘nhục’, để giữ lại được cho hậu thế những di sản là hệ quả của tài năng, của trí tuệ, của nghệ thuật, do những lớp người đi trước đã xây dựng nên, những thứ để hôm nay, thủ đô Viên đã bẩy lần được quốc tế công nhận, là nơi đáng sống nhất thế giới, và là di sản của nhân loại.

Viên- Thành phố được công nhận là di sản của thế giới năm 2001

Cuộc sống, luôn có rất nhiều cuộc đọ sức giữa con người với con người, nhưng khi kết thúc, đã từng có kẻ thắng, không còn đủ ‘khả năng sinh học’ để thụ hưởng kết quả của chiến thắng. Để rồi, cái lợi của thắng lợi lại rơi vào tay những kẻ cơ hội, đến từ xa. Thậm chí, kẻ thắng còn phải tìm cách bắt tay, hòa giải với kẻ bại, mong ‘được’ giúp đỡ, hòa giải, xây dựng lại mối quan hệ đôi bên…. cùng có lợi. Với lối tư duy thiếu biện chứng, một thời ở Việt Nam, nhiều người khi quan sát cuộc sống, đã nhận ra sự bế tắc trong các cuộc động viên xã hội, rằng: Tiến lên ta quyết tiến lên, tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu, hàng đầu… rồi biết đi đâu….?! Nhất là khi chúng ta từng vật lộn, tìm cách xoay chuyển định hướng tồn tại. Do bị cuốn vào những cơn lốc lịch sử giành quyền lực, vào cách tư duy tiểu nông, các chế độ cai trị đã từng bỏ rơi việc nhìn nhận đúng giá trị của kho tàng tri thức tinh hoa của các bậc tiền nhân, nguồn cội của trí tuệ, của lý trí, cơ sở của những sức mạnh tiềm ẩn của một dân tộc, bỏ qua lời dạy truyền đời của người xưa về nguyên tắc, gạn đục khơi trong. Nguy hại hơn, bằng lối tư duy áp đặt, phản khoa học, họ đã mang những định kiến tồi tệ về nhiều gương mặt khác biệt trong tầng lớp nhân sĩ của lịch sử, đi một chặng đường dài với những hình ảnh méo mó như những loại phế liệu, bỏ đi những thứ chính là loại nguyên liệu quý giá, tạo ra năng lượng cho một dân tộc. Trong những cơn bão định kiến tư tưởng của từng giai đoạn lịch sử, đã để lại tâm lý ly gián giữa các thế hệ tiếp nối, điều đã trở thành một trong nhiều nguyên nhân triệt tiêu lòng tự tôn đối với hậu thế, làm mù lòa khả năng nhìn rõ sự thật, làm đứt mạch lịch sử, mất đi niềm kiêu hãnh chính đáng của mỗi con người… thì trường hợp dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là một điển hình. Những sự nhìn nhận ghi thành giấy trắng mực đen về Nguyễn Văn Vĩnh của các chế độ chính trị trong lịch sử Việt Nam, hôm nay, người quan tâm không thể không ngạc nhiên khi nhận ra sự mâu thuẫn gần như tuyệt đối, nếu đối chiếu với những chứng cứ của quá khứ, mà đó là niên giám lịch sử. Dẫn chứng: 1/ Năm 1907, Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) bị khủng bố, hàng loạt các nhân sĩ là thành viên bị Nhà Cầm quyền bắt bớ tù đày và chém giết, riêng Nguyễn Văn Vĩnh được để ngoài. Dư luận đương thời (đa phần là các Nho sĩ) cho rằng, trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh là hiện tượng tiêu cực, Nguyễn Văn Vĩnh là viên chức của Tòa Đốc lý Hà Nội, là thông ngôn cho Pháp…. Có thể, họ đã không biết đó là cách nhìn thiển cận. Nhiều năm sau, còn chua chát hơn, vì một nhân vật danh tiếng trong làng văn hóa Việt Nam là Phan Khôi, một mẫu người luôn nhìn cuộc sống với con mắt khắt khe, nhiều khi cay nghiệt, khi nhắc lại sự kiện lịch sử này, đã ví Nguyễn Văn Vĩnh như một con chuột may mắn chạy thoát giữa một cuộc hỏa hoạn…. Những góc nhìn chủ quan, tiêu cực này trong quá khứ, đã được những lực lượng có tư tưởng hiềm khích với Nguyễn Văn Vĩnh, lợi dụng làm lý do để bài xích, thóa mạ và trả thù ông, con người có cái sự nghiệp mà họ đã không hề biết, không thể hiểu trước đó, và gán cho ông cái nhãn hiệu, Bọn Tây học (Bọn Tân học). Thật mỉa mai, vì nhóm người thù ghét Nguyễn Văn Vĩnh, chính là bộ phận các Nho sĩ là quan lại trong hệ thống cai trị, đối tượng thường xuyên bị Nguyễn Văn Vĩnh vạch mặt chỉ tên và lên án qua truyền thông, là bọn mượn áo thể chế, hà hiếp người dân, vun vén bản thân….

Các quan lại của Triều đình Nhà Nguyễn

Những kẻ ‘khủng bố’ Nguyễn Văn Vĩnh, và những kẻ kế thừa, sau này đã tự bao biện, tự giải thoát cho bản thân vì cái lối hành xử vô lương ấy, rằng biết làm sao được, vì ngày đó nhận thức còn ấu trĩ, vì đất nước cứ triền miên khói lửa, ít có điều kiện quan tâm để nhìn lại…. Nhưng thực chất, họ nhìn rõ, biết rõ rằng, dân chúng còn phải ngụp lặn trong các cuộc mưu sinh, mấy ai có thời gian để tìm cho rõ cái ngày xưa ấy là cái gì…? Mấy ai sẽ cảm thấy mình bị tổn thương vì cái quá khứ lịch sử mờ ám ấy, thay vì hàng ngày họ vẫn có cơm ba bữa… Và họ (kẻ quyền lực) còn nuôi hi vọng:‘cứt trâu để lâu…’ . Họ khuyên dân chúng, làm giàu càng nhanh càng tốt, ăn xổi cũng tốt, vì nó mau dẫn đến sự tự mãn. Kẻ tự mãn sẽ nhìn bọn dùi mài chữ nghĩa, luân lý mà cười khẩy, yên tâm khẳng định, rằng có tiền, tao mua tiên cũng được! Họ còn tâm đắc với cái lý thuyết độc ác rằng, thật, giả là do quyền lực khẳng định, chuyện không có thật, nhưng cứ nhắc đi nhắc lại mãi, nó sẽ thành sự thật! Thật sẽ chẳng ý nghĩa gì với những kẻ cường quyền, khi nhắc lại các ghi chép của quá khứ, và đã được khẳng định: Nguyễn Văn Vĩnh,
  • Là người đứng đơn đề nghị Nhà Cầm quyền cho mở trường ĐKNT.
  • Là người dịch sang Pháp văn toàn văn bản kiến nghị của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh viết bằng chữ Hán gửi cho Toàn quyền Đông Dương, đòi cải cách cái xã hội An Nam nhớp nhúa nửa thực dân, nửa phong kiến (riêng dịch ra tiếng Việt gần 10 trang).
  • Là người Việt duy nhất ký đơn cùng bốn người Pháp, đòi Chính quyền Thực dân trả tự do cho Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, vì vô tội.
  • Là người đứng bảo lãnh cho nhà yêu nước Phan Kế Bính, thành viên quan trọng trong ĐKNT thoát án tử hình.
  • Là người duy nhất viết thư gửi Đốc lý Hà Nội, gay gắt lên án sự đàn áp Phong trào ĐKNT, đồng thời khẳng định sự khủng bố ĐKNT, là hành động vô chính trị.
  • Là người Việt Nam đầu tiên là hội viên Hội Nhân quyền Pháp.
  • Là người duy nhất của ĐKNT làm báo, Chủ bút một tờ báo in bằng tiếng mẹ đẻ đầu tiên, cơ quan ngôn luận của một Phong trào Cách mạng.
2/ Năm 1913, sáu năm sau ĐKNT, sự nghiệp quảng bá chữ viết tiếng Việt bằng chữ cái La Tinh không có bước tiến nào, do báo quốc ngữ bị chặn đứng sau khi ĐKNT bị dập tắt. Các hoạt động bạo lực tự phát của các lực lượng phản đối chế độ Thực dân tăng, xã hội chính trị căng thẳng. Chính phủ Bảo hộ và Triều đình Huế bế tắc trong lĩnh vực truyền thông. Họ không tìm được cách để trấn an tinh thần, cũng như chuyển tải các chính sách răn đe dân chúng, vì không có chữ viết thống nhất, mang tính phổ thông để người dân hiểu. Thực tế này, đã buộc Nhà Cầm quyền đầu tư vào chính sách tuyên truyền thông qua báo chí. Họ quyết định cho ra đời tờ báo đầu tiên ở phía Bắc Việt Nam, in toàn bộ bằng chữ quốc ngữ, tờ Đông Dương Tạp Chí (ĐDTC). Mục đích chính trị này đã bị nhóm người ác cảm, đố kị, gán cho Nguyễn Văn Vĩnh là tay sai, vì là Chủ bút của tờ báo. Các hoạt động vũ trang của các nhóm bạo lực, nêu trong một số bài viết ở những số báo đầu tiên, cơ sở để họ quy kết Nguyễn Văn Vĩnh, như một kẻ chống lại các phong trào cách mạng. Những người lớn tiếng đó, đã không quan tâm mảy may đến tính khách quan chính trị của bối cảnh xã hội. Thời gian trôi đi, những ghi chép đó đã được lợi dụng, biến thành quan điểm và lập trường của một bộ phận những nhà cách mạng Vô sản, Nguyễn Văn Vĩnh bị tròng thêm vào cổ một bản án vô hình, cơ sở để một phần hậu thế, những người bị tư tưởng áp đặt, đã nhận thức sai lệch nghiêm trọng về ông, mặc dù họ biết rõ điều này thiếu cơ sở khoa học, không thuyết phục và mang tính trù dập. Nhờ bản chất ngay thẳng và chân thực của Nguyễn Văn Vĩnh, lịch sử đã bao quát, khách quan hơn, và ngày càng xuất hiện nhiều góc nhìn đúng với hoàn cảnh thực của quá khứ, được chứng minh qua các tư liệu tìm thấy trong lưu trữ. Nhóm người định kiến đã nhận ra sự thiển cận, họ biết đó là sự thiên kiến, song họ không đủ tinh thần sòng phẳng để nhận rằng, mình đã sai! Kết luận nghiên cứu của cơ quan chức năng thuộc Nhà nước Việt Nam, xác định: Nền Văn học chữ Quốc ngữ, nền văn hóa mang tính độc lập của người Việt, đã được bắt đầu từ tờ ĐDTC 1913 do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút, là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam dạy người dân làm văn quốc ngữ. Nguyễn Văn Vĩnh nếu không biết vận dụng nguyên tắc tương kế tựu kế, rằng chỉ có người Pháp mới được phép lập báo, chỉ có người Pháp mới có đủ tiền để chi trả cho những chi phí khổng lồ của công nghệ in ấn và xuất bản, chỉ có người Pháp mới có quyền pháp lý mở miệng … Thì ngày nào người Việt mới có được nền văn học chữ Quốc ngữ? Bao giờ người Việt sẽ biết đến giá trị của truyền thông báo chí, đến cuộc sống tinh thần, sinh hoạt tư tưởng của con người thể hiện bằng thứ chữ viết mà ai cũng học được, đọc được và hiểu được?! Thiếu cái chữ là hồn trong nước này, các trào lưu cách mạng khi vận động, kêu gọi tập hợp quần chúng, sẽ làm theo cách nào?! Đặc biệt, cuộc cách mạng Vô sản, đã lôi cuốn các tầng lớp nhân dân đi theo mình, bằng loại chữ viết nào?

Số 1 của tờ Đông Dương Tạp Chí 1913

3/ Năm 1926, sau khi Nhà yêu nước Phan Bội Châu trở lại sống một cuộc sống của một Ông già Bến Ngự ở thành phố Huế, Nguyễn Văn Vĩnh đã nhìn thấy một chặng đường dài của một con người thiết tha với dân tộc, thực lòng mong muốn dân tộc mình thoát được cảnh lầm than, hướng đến sự tiến bộ và phát triển. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng, Phan Bội Châu đã sai khi lặn lội tìm kiếm sự hậu thuẫn vật lực từ ngoại bang, nhằm thực hiện công cuộc cách mạng lật đổ một chế độ chính trị, được hậu thuẫn bằng sức mạnh của một kẻ đang thắng thế, đó là Chủ nghĩa Thực dân. Tư tưởng của Phan Bội Châu giai đoạn đầu khi động viên cách mạng, trái với quan điểm của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đề cập từ những năm đầu thế kỷ 20, khi họ xác định sự bất cân đối về lực lượng giữa Thực dân và người dân An Nam, nhất là trong bối cảnh một đất nước còn quá mông muội nhìn từ mọi phía. Quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, là bạo lực sẽ phải đổ máu. Thành công nhờ sự hy sinh và đổ máu, là cái giá quá đắt, và sẽ thiếu sự vững bền. Trong khi lịch sử của đất nước đã mất đi quá nhiều máu xương rồi. Để thay đổi và phát triển bền vững, dân trí và tri thức mới là điều cần có đối với một dân tộc muốn hướng đến sự phồn vinh, trường tồn. Năm 1926, tin tưởng Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh đã lặn lội vào Huế. Họ đã có nhiều ngày đàm đạo, và thống nhất làm văn bản gửi Toàn quyền Đông Dương, đòi nước Pháp phải chấp nhận xây dựng một chế độ cộng hòa ở An Nam, trên tinh thần dân chủ và bình đẳng. Nội dung kiến nghị chi tiết, căn bản lấy từ nguyên lý của chính cuộc cách mạng Tư sản Pháp cuối thế kỷ 18. Hệ lụy chính trị của mối quan hệ lịch sử này, đã đặt Nguyễn Văn Vĩnh thực sự nằm trong tầm ngắm của Chính phủ Thuộc địa, nhưng ông đã không hề bận tâm, rằng họ có sẽ bóp cò hay không?! Năm 1930, Nguyễn Văn Vĩnh bị Nhà Cầm quyền khống chế gần như tuyệt đối mọi mặt, nghiêm trọng nhất, là họ ‘chặt đứt’ một cánh tay của ông, khi cấm ông viết bằng tiếng Việt. Hậu quả của việc chống đối quyết liệt, chủ trương người Pháp áp đặt thể chế chính trị Quân chủ Lập hiến ở Việt Nam, dựa trên Hiệp ước Patenot 1884 đã ký với Triều đình Huế. Và điều này trái với yêu cầu được viết thành văn bản năm 1926 của Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu. Năm 1932, sức ép gay gắt của cường quyền, đòi Nguyễn Văn Vĩnh phải hủy bỏ sự nghiệp chính trị của mình trong việc vận động cho Việt Nam theo quy chế chính trị Trực Trị. Vua Bảo Đại ‘đền bù’ bằng việc ‘mời’ ông vào Huế làm Thượng thư. Nguyễn Văn Vĩnh, con người sắt đá với lý tưởng mình theo đuổi, không có sự mua chuộc nào có thể làm thay đổi được ông. Người Pháp cũng hết kiên nhẫn trong việc thu phục Nguyễn Văn Vĩnh, và họ đã khống chế ông triệt để về kinh tế bằng biện pháp xiết nợ, vì họ biết trước, ông không có khả năng trả vào thời điểm đó, điều đã được họ dự tính từ năm 1926, hệ quả việc ông đã liều lĩnh vay Ngân hàng Đông Dương để nâng cấp hệ thống thiết bị và công nghệ in ấn, xuất bản, phục vụ cho mục tiêu xây dựng Trung tâm Văn hóa Âu Tây Tư Tưởng. Họ đã dùng bước xô ngã cuối cùng này để lấy cớ bỏ tù Nguyễn Văn Vĩnh. Cáo già hơn, họ biết rõ tính cách cương trực của Nguyễn Văn Vĩnh, người chỉ coi danh dự là trên hết, họ đã mặc cả, đổi lấy việc để không phải vào tù, họ đã xắp xếp để ông chỉ còn cách sang Lào, đi đào vàng trả nợ Ngân hàng, cơ quan tài chính uy quyền nhất, đại diện cho Chính phủ Bảo hộ của Thực dân Pháp. Phương án triệt hạ được coi là tối ưu này, đã che mắt được lịch sử, thay vì họ tuyên bố Nguyễn Văn Vĩnh phải đi đày! Đây chính là khoảnh khắc chính trị mỏng manh nhất, khi Nguyễn Văn Vĩnh cần sự hỗ trợ tinh thần của Phan Bội Châu. Đáng tiếc, vào thời điểm đó, Phan Bội Châu đã không còn đủ khả năng chia sẻ với Nguyễn Văn Vĩnh, vì vậy đã nổ ra cuộc bút chiến giữa Nguyễn Văn Vĩnh với Huỳnh Thúc Kháng, được trình bày công khai trên tờ báo tiếng Pháp L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới, khi Nguyễn Văn Vĩnh nhận xét về tinh thần cách mạng của Phan Bội Châu.

Một đoạn bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh nói về Phan Bội Châu trong loạt bài tranh luận với Huỳnh Thúc Kháng,

đăng trên tờ L’Annam Nouveau-Nước Nam Mới, ra ngày 24.4.1932 tại Hà Nội.

Sự kiện chính trị nghiêm trọng nhưng thầm lặng này, đã đưa Phan Bội Châu đến tâm trạng day dứt, tiếc nuối đầy thương cảm và nể phục, khi biết tin Nguyễn Văn Vĩnh chết đột ngột bên Lào ngày 1.5.1936 trong cái ‘chiến dịch đi tìm vàng’…. Để chứng minh tấm lòng chân thực và tình cảm trân trọng trước tài năng, đức độ của Nguyễn Văn Vĩnh, của người bạn nhỏ (kém cụ Phan 18 tuổi) đầy khí phách kiên cường, Phan Bội Châu đã viết đôi câu đối vừa bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng Hán có nội dung khác nhau, gửi từ Huế ra viếng tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tổ chức tại Hà Nội. Hôm nay Mấy trang dẫn giải về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, để người quan tâm hiểu rằng, sự thật về những gì đã diễn ra liên quan đến Nguyễn Văn Vĩnh là có thật, một thằng người bằng xương bằng thịt, đã dám kiêu hãnh dâng hiến những gì mình có vì tương lai của một dân tộc tri thức. Nguyễn Văn Vĩnh luôn tâm niệm, rằng dân tộc Việt không thể là giống người mọi rợ, ‘nhà quê’ như sự mỉa mai của những kẻ tự đắc, khi đặt mình vào vị trí của kẻ đẳng cấp trên. Với Nguyễn Văn Vĩnh, nền văn minh và sự tiến bộ vốn là sự ban phát công bằng của Tạo hóa, dành cho mọi giống người có tri thức, có trí tuệ trên trái đất này. Nhờ cái tinh thần cao quý ấy của Nguyễn Văn Vĩnh, bất chấp thời gian, bất chấp sự chà đạp thô bạo và dai dẳng của những kẻ ích kỷ, sống bằng tư tưởng định kiến, bắt chấp cả sự quay lưng của những nhân sĩ hiểu biết, nhưng vì cường bạo và lợi riêng đã làm ngơ…. Nhưng tên tuổi Nguyễn Văn Vĩnh vẫn vang lên đâu đó. Năm nay, có thể là ‘vô tình’ trong ngày đầu tiên của một năm mới, mồng 1 tháng Một năm 2019, cái mốc vừa tròn 100 năm chữa Quốc ngữ soán ngôi chữ hán và chữ Pháp, Đài Truyền hình Việt nam đã đặt câu hỏi cho người tham gia trong chương trình giải trí ‘Ai là triệu phú?’; nếu muốn nhận thưởng chục triệu đồng, hãy cho biết, người Việt Nam nào đầu tiên dịch tác phẩm Những Người Khốn Khổ của Victo Huygo từ tiếng Pháp ra tiếng Việt? Rất có thể, cả triệu người theo dõi chương trình, số đông đã giật mình, vì lần đầu tiên họ nghe nói đến dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh. Song, với kẻ theo đuổi đề tài này, đây là niềm an ủi quý giá. Phàm ở đời, không có một thì lấy đâu ra hai? Không có một lần nhắc đến…. Có thể sẽ là chẳng bao giờ! Cuối cùng, người làm công việc ‘muốn người khác hiểu mình’, đã coi sự kiện văn hóa kể trên, như một hạt muối mặn đối với kẻ thường xuyên bị ăn nhạt…. Vì vậy, dù thế nào, cũng xin được cảm ơn! Đề tài Nguyễn Văn Vĩnh có thể được xem là đã nói đến rất nhiều, rất lâu, nhưng khó để xác định đến lúc nào là đủ, nếu không đọc lại câu nói của nhà văn nổi tiếng Thế giới Alexandre Dumas, tác giả của Ba chàng ngự lâm pháo thủ:   

 “Tất cả sự khôn ngoan của con người được tập hợp lại trong hai từ; chờ đợi và hy vọng”.

(All human wisdom is summed up in two words; wait and hope).

Ảnh chụp màn hình VTV ngày 1.1.2019

Hà Nội, 24.2.2019. NGUYỄN LÂN BÌNH.   Các bài liên quan: Bài 1                                  

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network