NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI CHỐNG ĐÚT LÓT và HỐI LỘ – Bài 1

Thưa các quý vị độc giả!

Để đóng góp với xã hội, cùng tham gia vào tiến trình tìm và thực hiện những giải pháp chữa trị quốc nạn tham nhũng, để bổ xung vào kho kiến thức chung, giúp bạn đọc hiểu thêm về lối sống và cách tư duy của người Việt về quan niệm xấu tốt, về thói quen trong sinh hoạt, về tính liên đới trong đời sống cộng đồng… Chúng tôi xin được giới thiệu với các quý vị những suy nghĩ có tính hệ thống về xã hội học, về bản chất xã hội, về nguồn gốc của tham nhũng, hối lộ ở xã hội Việt Nam của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh nêu từ gần 100 năm trước.

Đọc những quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh về các vấn đề xã hội và chính trị, chúng ta sẽ hiểu rõ vì sao nhà cầm quyền đã lo sợ ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đến mức phải loại bỏ con người này bằng những cách thức tinh vi, tàn ác của cả một bộ máy.

Các bài viết này được viết bằng tiếng Pháp cách đây đã hơn 80 năm. Đây cũng là các bài viết đã được chúng tôi sắp xếp để in trong tập 9 của bộ sách 14 tập “Lời Người Man di hiện đại”. Tuy nhiên, vì tính cấp thiết của xã hội hiện nay trước quốc nạn tham nhũng và hối lộ, nên chúng tôi xin giới thiệu trước theo sự đề nghị của một số người quan tâm.

Các bài dịch này là do các con cụ Vĩnh đã dịch từ 25 năm trước, với ý nguyện để giúp các cháu chắt và những người thân của gia đình hiểu hơn về lý tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh đã từng theo đuổi trong lịch sử. Vì mục đích dịch như trên nên chất lượng dịch không hoàn toàn làm thỏa mãn các vị độc giả, chúng tôi thành thật mong các vị độ lượng trong phán xét và chia sẻ với chúng tôi thực tế này.

Các bài viết này khi chính thức đưa in sách, chúng tôi sẽ thuê các dịch giả có chuyên môn cao giúp chuyển ngữ sang tiếng Việt một lần nữa.

Trân trọng!

T/M. BBT tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

 

         CHẾ ĐỘ ĐÚT LÓT, HỐI LỘ MUÔN HÌNH VẠN TRẠNG

                     ( La concussion sous ses différentes formes)

 Tham nhung - Hoi lo 1

Bài 1, L’Annam Nouveau số 110 ngày 13.2.1932.

Để tiến tới việc loại trừ tệ nạn này khỏi xã hội An Nam, mặc nhiên phải biết trấn áp nó một cách có ý thức, tức là phải tính được mức độ nghiêm trọng đối với từng lĩnh vực. Chúng ta không thể theo những quan điểm của người Châu Âu khi nhìn về tính trung thực của lương tâm nghề nghiệp đối với các cơ quan pháp luật và các viên chức nhà nước, vì ở ta, điều này lệ thuộc vào những quan niệm của người dân Á Đông khi xác định về nghĩa vụ và quyền lợi của các cơ quan, công sở đối với việc áp dụng sự trừng phạt về mặt hành chính hay theo tính chất hình sự một cách thỏa đáng.

Ở xã hội Âu Châu, các cơ quan công quyền được phân cấp và tổ chức rất rõ ràng, cụ thể, nhằm giúp cho người dân khi có những công việc liên quan đến những công chức, viên chức thuộc hệ thống của Nhà nước biết cách yêu cầu và đòi hỏi những cá nhân đó thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm theo chức năng của họ được phân công. Một công dân có quyền nghĩ và nói với các viên chức đó nếu thấy cần rằng: “ông được trả lương để phục vụ tôi!”. Người Trung Hoa hiểu ý này là: Dân-bộc (đầy tớ của dân), họ dùng từ ngữ này để chỉ vai trò của những viên chức trong bộ máy của một nhà nước Cộng hòa. Tất nhiên, điều này đòi hỏi mỗi công dân đều phải hiểu được thế nào là quyền và nghĩa vụ của mình. Trước các cơ quan công quyền trong hệ thống hành chính, đồng bào của chúng ta có thể nhận thấy khá dễ dàng như thế. Nhưng trước các cơ quan hành pháp và tư pháp, họ hiểu ở mức nông cạn hơn.

Từ nhiều thế kỷ qua, người dân luôn quen với tâm lý sợ “oai” của một xã hội quân sự luôn dùng vũ khí để áp đặt sự vâng lời, đồng thời hay sợ sự “oai” của các vị quan trong cơ quan tư pháp khi phán việc ai đúng, ai sai và định tội cho những ai phải ra trước vành móng ngựa. Các vị quan này được coi là bậc cha mẹ của dân trong việc đánh giá các sự việc nằm dưới con mắt phán xét của họ. Họ không kết luật theo những quy định của luật pháp như ở các nước văn minh, mà họ đánh giá theo yêu cầu của một trật tự xã hội với nền đạo đức tập thể của một chế độ vương quyền. Họ tự xác định: Trời đặt ra như thế vì hạnh phúc của các thần dân.

Trong các xã hội Á Đông, quyền lực Nhà nước thường theo chế độ chuyên chế. Mỗi viên chức của Nhà nước thường được tập trung kiêm nhiệm tất cả các quyền lực cần thiết để đòi người dân phải biết sợ đức Vua. Sự phân chia chỉ là tương đối và đơn giản trong hệ thống tổ chức bộ máy mà nội dung chẳng liên quan gì đến người dân. Mỗi viên chức thuộc hệ thống quản lý của Nhà nước đều tự thấy mình là người đại diện cho quyền lực, là người có nhiệm vụ và quyền hành đề cao sự giá trị của những quy định của luật pháp và đó chính là uy thế của vương triều.

Hai người An Nam khi có tranh chấp hoặc thắc mắc với nhau, nếu không có điều kiện để thông qua vị một vị quan tư pháp hoặc cơ quan tư pháp, thì họ sẽ mời bất cứ ai mà họ gặp, có thể là một viên cảnh sát, hay một nhân viên của hệ thống chính quyền để phán xử cho mình. Chúng ta đã tốn rất nhiều năm trời để làm cho những người dân ở thành thị, những người có hiểu biết hơn chút ít hiểu được rằng: một viên cảnh sát hay một vị chức sắc được xã hội dựng lên là để bảo đảm cuộc sống an ninh công cộng, những người đó chỉ có thẩm quyền ghi nhận những vi phạm nếu thấy, còn sự phán quyết và trừng phạt phải thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp mà ông cẩm chỉ là cấp trên của họ thôi.

Quyền của một ông cẩm là được quyền xem xét và đánh giá sự vi phạm ở mức độ nào và có thể bỏ qua hay phải chuyển lên tòa án.

Chúng ta nhìn rõ sự lầm lẫn luôn ngự trị trong đầu óc của người nông dân liên quan đến nhận thức về những quyền hạn mới được áp dụng cho các đại diện trong các cơ quan quyền lực. Ở Âu châu hay ở nước ta đều có những định ước về một tầng lớp được gọi là quan, coi họ là cha mẹ của dân, một thứ hiện thân của chế độ Vương quyền và cho rằng đó là đèn trời soi xét, nhiễm nhiên trở thành một thứ quyền lực rộng rãi nằm ở tất cả các lĩnh vực. Cách phân chia xã hội do người Pháp cai trị càng không có cách nào để loại bỏ được những kiểu câu kết giữa các thứ bậc, giữa các chức vụ, ngược lại, nó còn làm cho tất cả các loại công chức và viên chức liên kết lại với nhau.

Sự việc này thực tế đến nỗi đã tạo ra một kiểu lễ độ mà mọi người đã đều nhận thức rằng tất cả các quan lại trong một huyện, một tỉnh đều có thẩm quyền như nhau trước bất cứ một lĩnh vực gì…và cứ được mặc nhiên nhận mãi sự lễ độ này, cứ thế, các quan lại đều tự tin rằng mình có mọi quyền lực.

Vậy nên, trong những việc cần khấn vái, mua chuộc để tìm sự ban ơn của một viên chức, cần phải biết phân biệt đâu là những thẩm quyền thực sự của từng viên chức, tránh những việc đương sự đưa đến nhầm lẫn về quyền hạn của họ. Như thế, mới mong họ sẽ phát huy được thế lực đối với các cơ quan liên quan thực sự có thẩm quyền giải quyết điều mình đề nghị.

Đồng bào của chúng ta hiểu thế nào về việc một viên quan buôn quyền, bán chức để nhận hối lộ? Người châu Âu cũng rất biết loại hình lạm quyền này, song ở mức độ đơn giản hơn nhiều. Đối với ở ta, việc lợi dụng chức quyền và ăn hối lộ trở thành một lợi ích tự nhiên vì nó gắn liền với mọi chức danh trong hệ thống Nhà nước, đồng thời biến các thành viên của nó thành những kẻ được ưu đãi, được các Thần Phật ưu ái và ban cho phúc lộc như phần thưởng với những việc làm cùng phúc đức nhờ kiếp trước dành cho đời này. Họ coi đó cũng là phần thưởng nhờ âm đức của tổ tiên, nhờ Thần Phật để họ được làm quan, trở thành giàu có, đảm bảo cho sự trọng vọng, vàng son của bố mẹ.

Còn theo cách nghĩ đạo đức của những kẻ bình dân, họ phân biệt và quan niệm những lợi lộc ngoài pháp luật của giới quan lại là bình thường và việc nhận được lợi lộc đó là tự nhiên. Họ cho rằng, đó là sự trả ơn, chẳng thiệt hại ai, chẳng vi phạm luật lệ gì về luân lý cũng như những lợi ích chung. Chuyện các quan lại được hưởng lợi lộc bất bình thường ngoài thẩm quyền của họ là do họ tự biết cách tạo dựng mà thôi.

Vấn đề là làm sao dung hòa được những mối lợi ngoài pháp luật với yêu cầu của sự công minh tuyệt đối của người làm tư pháp, cùng với sự công bằng nghiêm túc của những người ở vị trí của kẻ chỉ đạo? Cần phải tin rằng, người Á Đông chúng ta có một quan niệm kỳ khôi về công quyền (pouvoirs publies), chí ít là nó thật sự trái ngược với những quan niệm của người Âu châu, cho dù khi phân tích kỹ hành vi của con người, thì trong sâu thẳm mỗi dân tộc đều có những xu hướng giống nhau. Việc dung hòa giữa những xung khắc của tình cảm và lý trí, giữa những yếu kém có tính cố hữu với bản chất con người, giữa sự ích kỷ cá nhân trước đòi hỏi về sự công bằng mà nó phải là nền móng của một xã hội, giữa phương thức tổ chức xã hội với những tập quán có tính cổ truyền.

(Còn nữa)

NGUYỄN VĂN VĨNH

Người dịch: Bùi Tường Trác và Nguyễn Thị Mười.

Hiệu đính kỹ thuật: BBT Tannamtu.com

 

        

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network