LỜI NGƯỜI MAN DI HIỆN ĐẠI – NHỜI ĐÀN BÀ

LỜI DẪN

Có lẽ, đối với một người thường, việc hiểu câu nói Phúc đức tại mẫu là tục ngữ, là ca dao, hay là phương ngôn… đều không quan trọng, vì trong cuộc sống, bất cứ ai, dù làm gì, ở đâu, nhưng khi nhắc đến khái niệm này đều không dấu được cái thiêng liêng, cái cao quý, cái giá trị không phải bàn cãi về hàm ý tư tưởng, tình cảm lắng đọng của bốn từ tiếng Việt này.

Trong lịch sử tồn tại và phát triển sinh tồn của dân tộc Việt Nam, đặc biệt ở thế kỷ XX, cái thế kỷ nhiều biến động, nhiều đổi thay sâu sắc bậc nhất trong quá khứ lịch sử, có một người Việt Nam nguồn gốc thật nhà quê, nhà quê đến mức hãnh diện khi khẳng định với người đời, với cả kẻ cai trị mình, để nói một cách tự tin rằng: “Người Nhà quê chúng tôi…” tôn thờ mẹ, người sinh ra mình là đấng cao nhất, và luôn tâm niệm tuyệt đối về mọi sự hay dở, mọi sự thành bại của thằng người, của giống nòi đều phụ thuộc vào mẹ! Người Nhà quê đó thờ câu: Phúc đức tại mẫu, và đó là nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936).

Nguyễn Văn Vĩnh lớn lên trong cảnh ngộ khó khăn của một gia đình nghèo như chính cái đất nước sinh ra mình. Nhưng cái nghèo không phải đã là lý do để Nguyễn buồn, lo, trăn trở… Điều Nguyễn luôn canh cánh trong lòng, trong suy nghĩ, là cái sự hủ lậu trong cuộc sống tinh thần, trong sinh hoạt đời thường của người dân, của đồng bào mình, nguyên nhân của bao điều cay đắng và chua xót.

Từ lúc mới ngoài 20 tuổi, Nguyễn đã nhấn mạnh một cách dõng dạc trước đồng bào của mình tại ‘Hội quán Trí Tri’ ở Hà Nội, rằng:“Chữ viết như là ảnh của tiếng nói, nói thế nào thì phải viết như vậy!”. Nguyễn hoàn toàn nhận thức một cách dứt khoát khi bất bình vì phải đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du bằng chữ Nôm, và Nguyễn phản ứng:

“Nhời là nhời nói với cả bao nhiêu người trong ngực có tấm lòng thổn thức, mà lại dùng những chữ-nghĩa ước với nhau trong một bọn nho mà thôi; thì sao hiểu thấu hết được?”.

(Trích Lời tựa do Nguyễn Văn Vĩnh viết trong cuốn Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, in lần đầu tiên bằng tiếng Việt năm 1909, cùng Phan Kế Bính 1875-1921).

Nguyễn đã quyết chí bằng tất cả sức lực và tài năng thiên bẩm, làm bằng mọi giá để cái chữ viết tiếng Việt được La Tinh hóa từ các nhà truyền giáo phương Tây ở thế kỷ XVII, trở thành chữ viết phổ thông, mà hôm nay được gọi là Quốc ngữ của người Việt, để người Việt không phải dùng cái chữ – nghĩa ước với nhau nữa.

Nguyễn những mong qua con chữ này, nó sẽ là động lực để phát động cuộc cách mạng văn hóa, thay đổi và cải cách toàn diện một xã hội từ lối nghĩ, lối sống, đến hành vi, hòng đẩy lùi sự lạc hậu, sự tăm tối của đồng bào mình, mà trong đó có một mảng lớn quan trọng phải gánh chịu nhiều thiệt thòi, mất mát nhất, đó là phụ nữ. Nguyễn muốn đập tan cái bất công truyền kiếp do lối sống phong kiến để lại trên nền tảng của ‘lời nguyền’ của Khổng Tử “nữ nhi nan giáo” (phụ nữ khó dạy).

Nguyễn thấm đẫm cái hồn quê qua hình ảnh của người mẹ, người phụ nữ, người bạn thứ nhất của kiếp người. Nguyễn không chỉ thương, mà còn xót xa cho mẹ khi nhìn thấy mẹ khổ, mẹ bị ngược đãi, không phải chỉ một lúc, một nhát, mà cả đời lận đận vì… chồng, vì… con. Đau cái nỗi đau của mẹ, khổ cái nỗi khổ của mẹ, Nguyễn muốn giúp mẹ đứng dậy, giúp mẹ hiểu đầy đủ cái quyền của thằng người ở đâu, chứ không phải chỉ là bổn phận và nghĩa vụ.

Nguyễn đã viết vì điều đó, Nguyễn mở cái cánh cửa văn minh, khoa học và tiến bộ của thế giới, để người đàn bà nước Nam hiểu và yên tâm rằng, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc! Và trên nữa, người đàn bà còn có chức phận cao quý hơn, vì là người quyết định cái cuộc đời của một thằng người khi:“Mẹ ngoảnh đi, con dại; mẹ ngoảnh lại, con khôn”.

Nhờ cái động lực như lửa cháy về khai dân trí, nên khi Nguyễn chớp được cơ hội ngàn vàng là năm 1907, chính kẻ cai trị đã ‘đặt hàng’ Nguyễn làm chủ bút tờ báo phổ thông tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ,“Đăng Cổ Tùng Báo”, Nguyễn đã lập tức chiếm lĩnh trận địa, vượt mặt cái chính sách ngu dân của nhà cầm quyền, khai mở chuyên mục dành riêng cho đàn bà, con gái, vì Nguyễn tin rằng:

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi…

Và đó là chuyên mục NHỜI ĐÀN BÀ.

“Đăng Cổ Tùng Báo” có tuổi thọ đúng bằng thời gian diễn ra Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (9 tháng), nhưng Nguyễn cũng đã cho ra được hơn hai chục bài viết dành cho chuyên mục này. Lần đầu tiên trong lịch sử văn hóa Việt Nam, lịch sử báo chí và xuất bản bằng tiếng Việt, vai trò người phụ nữ được xác lập cụ thể, có vị trí độc lập trên đàn ngôn luận, và đó chính là sự khởi nguồn cho các phong trào giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền, xây dựng xã hội dân chủ ….

Thực chất, bên cạnh tất cả những mục tiêu lao động của Nguyễn trong lĩnh vực bảo vệ, bênh vực và hàm ơn của kiếp người đối với giới nữ, có một ý nghĩa lớn hơn tất cả những điều chúng ta biết, đó là cải tạo và phát triển giống nòi thông qua vai trò người phụ nữ. Nguyễn đã cực kỳ lo lắng trước sự miệt thị của xã hội cổ hủ đối với đàn bà con gái, cái xã hội đã từng coi họ chỉ là những công cụ mặc định, để khác giới thực hiện cái chức dịch mà họ luôn tự cho rằng, là lẽ đương nhiên, cho dù tất cả đều thấm thía khi ông bà ông vải dạy rằng:

Mồ côi cha ăn cơm với cá

Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường (chợ).

Có lẽ, trong giới nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam, Trần Ngọc Thêm là người đầu tiên đặt vấn đề cần phải nghiên cứu“văn hóa bảo tồn nòi giống”. Theo ông, “Trong số tất cả các loại giá trị văn hóa, thì các giá trị liên quan đến văn hóa bảo tồn nòi giống là loại giá trị đặc biệt nhất”. (Lý luận văn hóa học – Tập bài giảng, Bộ môn Văn hóa học – Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, 2005, tr.66).

Là những người kính trọng tài năng, lòng nhẫn nại và cả đức hy sinh của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi đã làm hết mình trong phận sự của những kẻ hậu sinh, biên tập cuốn sách này, bằng việc tập hợp một số những bài viết của ông trong chuyên mục NHỜI ĐÀN BÀ đăng trên các tờ báo mà ông là Chủ bút, từ khi khởi sự (1907) cho đến ngày ông bị o ép, đày đọa và gục ngã (1936).

Cuốn sách là minh chứng với lịch sử khai minh của văn hóa Việt, đồng thời, khẳng định cái giá trị đặc biệt của kẻ đã dũng cảm vượt qua những rào cản cay nghiệt của thiết chế, của lối sống phong kiến cổ hủ, áp đặt lên số phận người đàn bà, để ngợi ca cái giá trị vĩnh hằng của người phụ nữ, điều mà trước đó chưa từng xảy ra ở đất nước An Nam lạc hậu.

Cuốn sách có ba phần không tách rời, thực chất mang cùng một mục đích, nhưng được thể hiện qua những giai đoạn thăng trầm trong cuộc đời làm báo của ông (1907 – 1913 – 1931). Thực tế này, còn giúp bạn đọc thấy rõ những bước thay đổi của tiếng Việt, từ khi nó còn chưa được xã hội Việt Nam chấp nhận, do sự bài xích của Phong kiến và tư tưởng Nho giáo bảo thủ, cho đến khi nó được trở thành chữ viết Quốc gia – Quốc tự.

Cuốn sách buộc người đọc phải kiên nhẫn, chậm rãi khi đọc những câu chữ ngày xưa, mà 100 năm sau nhìn lại, đôi khi chúng ta thấy nó ngồ ngộ. Nhưng chính cái sự ngồ ngộ đó, đã giúp lột tả sự thô thiển, phản khoa học của một số phong tục được gọi là tập quán của một xã hội, đã hành xử bất công đối với nữ giới nói chung, thời mà người dân Việt còn chưa có khái niệm về thế nào là truyền thông, là văn hóa, văn học…?!

Trong quá trình sưu tầm, biên soạn, chúng tôi chỉ chỉnh sửa lại một vài lối viết chính tả cho phù hợp với cách viết tiếng Việt hiện hành, giúp bạn đọc dễ dàng tiếp nhận văn bản hơn, còn lại, tất cả các bài viết đều được sao chép trung thực theo đúng nguyên bản trên các tờ báo gốc.

Qua một quá trình dài nghiên cứu, chúng tôi xin được khẳng định, Nguyễn muốn là kẻ tiên phong trong quá trình xây dựng nền văn hóa chữ viết Quốc ngữ, nên không thiếu những tiểu tiết bộc lộ sự trăn trở, sự vật lộn trong tư duy khi ông chọn từng con chữ bình dân nhất, mộc mạc nhất, những mong để người đọc ngày càng dễ cảm nhận, do nó gần gũi với tiếng mẹ đẻ, nhất là khi thứ chữ viết này, đang tìm cách cạnh tranh một cách quyết liệt với văn hóa Hán Nôm, thứ mà đất nước này đã phải vay mượn để sử dụng từ nhiều thế kỷ trước.

Phần cuối cuốn sách, là một số bài viết bằng tiếng Pháp, do Nguyễn bị Nhà Cầm quyền cấm viết bằng tiếng Việt, vì mâu thuẫn với hệ thống chính trị đương thời.

Chúng tôi không dám có chủ trương, đưa tất cả các bài viết về đề tài người đàn bà của Nguyễn vào cuốn sách này, bởi năng lực hạn chế và sức có hạn. Chúng tôi biết đây là sự thiệt thòi cho độc giả, bởi lẽ, chính giai đoạn cuối đời của Nguyễn, suy nghĩ và quan điểm của ông về mọi vấn đề trong xã hội, được khẳng định là rộ chín nhất, sắc thái đa dạng nhất.

Cuốn sách “Lời Người Man di hiện đại” – NHỜI ĐÀN BÀ, chắc chắn sẽ làm hài lòng người đọc, chí ít là nhìn ở góc độ nhân văn, nhân học và nhân tính.

Thật tuyệt vời, vì một chặng đường không ngắn, kể từ năm 2013 khi chúng tôi kết hợp cùng Nhà Xuất bản Tri Thức cho ra đời tập Một trong bộ sách 14 tập, bao gồm các di cảo của Nguyễn Văn Vĩnh, có tên “Lời Người Man di hiện đại”, đến nay, nhờ có sự hợp tác và chia sẻ của Nhà Xuất bản Phụ nữ, chúng tôi mới cho ra đời được cuốn sách thứ Hai này của ông.

Chúng tôi chờ đợi sự đánh giá và sự cảm nhận của độc giả, để từ đó, hy vọng sẽ cho ra đời các tác phẩm tiếp theo của Người Nhà quê, Người Man di hiện đại, và trên nữa là Người Công dân vĩ đại Nguyễn Văn Vĩnh.

Xin thành thật cảm ơn Nhà Xuất bản Phụ nữ, cảm ơn những cộng sự, người dịch từ Pháp văn ra Việt Văn, cảm ơn các vong linh đã khuất, những người đã từng tận tâm, ra sức sưu tầm, giữ gìn và bảo vệ những di sản của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đồng thời đó cũng là những người con đẻ của Nguyễn như: Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Hồ và người con rể Bùi Tường Trác.

Để làm được những điều này, chắc chắn các con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh phải là những người thấm đẫm cái tư duy Phúc đức tại mẫu của cha mình.

Hà Nội, mùa Thu 2017.

Ghi chú: Trên đây là lời nói đầu của cuốn sách “NHỜI ĐÀN BÀ” do NXB Phụ Nữ in lần thứ nhất năm 2018, và được tác giả chỉnh sửa vào tháng Sáu năm 2024.

Nguyễn Lân Bình.

                                              

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network