Câu chuyện thứ 7: NGUYỄN DỰC RADIO với NHẠC SỸ PHẠM DUY – PHẦN 2

PHẦN 1

Kết cục buồn

Tháng Giêng năm 2000, đám giỗ bà nội tôi, bà Nguyễn Văn Vĩnh, rơi đúng vào một ngày Chủ Nhật. Buổi giỗ để lại dấu ấn sâu đậm với gia đình tôi, bởi lẽ không biết từ hồi nào, lần này, giỗ bà nội tôi có đủ cả hai bên gia đình nội ngoại, nhờ việc tổ chức tại 43a Hàng Bài, là nhà của ông bà ngoại, ông bà An Thái, nơi mà gia đình tôi ở nhờ từ năm 1954, sau khi từ kháng chiến trở về.

Tại bữa cỗ, tôi mở một chai vodka Nga 100% (nhấn mạnh, vì ở Hà Nội có đủ loại rởm, đặc biệt là rượu). Tôi rót trước tiên cho mâm cỗ nơi có bà ngoại ngồi, người bác ruột của tôi là Nguyễn Kỳ và người chú ruột là Nguyễn Hồ, cha tôi ngồi giữa.

Mọi người hỉ hả (nhất là cha tôi) nâng chén… Tôi ngồi mâm khác, vừa tiếp mọi người, vừa nhớ việc quay lại mâm cha tôi ngồi để rót thêm rượu. Khi tôi cầm chai định rót tiếp vào các chén đã cạn, người bác và người chú ruột của tôi cùng giơ tay ra trước mặt cha tôi, đồng thanh nói như mắng:

“Thôi, uống thế thôi, uống nhiều không tốt đâu!”.

Cha tôi cười trách móc, nói nửa đùa nửa thật và đặt mạnh chiếc chén xuống bàn khẳng định:

“Đến tuổi này rồi…chỉ còn một thứ mình thích mà cũng không được nữa, thì sống để làm gì chứ?”.

Hai ngày sau buổi giỗ, cha tôi phải vào cấp cứu ở bệnh viện.

Tuần lễ trước đám giỗ, cha tôi vu vơ nói với mẹ tôi, rằng:

“Này em ạ, anh mà có thế nào… Chỉ mấy ngày là anh đi…”.

Mẹ tôi ‘quát’:

“Anh nói linh tinh gì thế?!”.

Rồi mọi sự đã diễn ra đúng như cha tôi tưởng tượng. Ông nằm viện được 5 ngày, và ông qua đời ngay trước mắt tôi, cũng đúng vào buổi sáng Chủ Nhật.

Nước mắt tôi chan hòa khi phải chứng kiến sự chấm hết của một con người ‘hào hùng’ đến như vậy. Chấm hết một cuộc đời của một thằng người, cả đời lăn lộn, lúc nào cũng sẵn lòng vì người khác. Một con người chỉ biết dâng hiến, chưa bao giờ tôi thấy ông nghĩ riêng cho cái thân mình, dù chỉ là một chút, mà nếu có, cũng chỉ là điếu thuốc, hay chén rượu mà thôi.

Nguyễn Dực (dấu đỏ) và vợ ngồi giữa, cùng những người thân chụp sau bữa giỗ cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh. Đây được coi là bức ảnh cuối cùng trong cuộc đời ông

Khi bàn đến việc làm tang cho cha mình, tôi rụt rè trước các vị lãnh đạo của bệnh viện Việt Xô (nơi cha tôi nghỉ hưu với danh nghĩa chuyên viên vô tuyến điện Khoa Tim mạch), và ‘ngây ngô’ thưa rằng, tôi muốn được phép viết điếu văn cho cha mình. Vị Bí thư Đảng ủy bệnh viện gạt đi ngay, khẳng định:“Không được, đó là nhiệm vụ của chúng tôi!”.

Khốn nạn, tôi muốn làm tang cho cha tôi, chỉ để nói được hết những gì có thật liên quan đến cuộc đời ông, tôi không muốn phải dùng những bài ‘điếu văn’ thủ tục, được rập khuôn, sáo, vô hồn cùng với nhiều chi tiết không thật, mà tôi đã phải chứng kiến quá nhiều ở những đám tang khác, của những người tôi biết.

Ngoài ra, tôi muốn dùng nhạc nền trong lễ viếng tang, là các bản giao hưởng mà cha tôi mê mẩn từ lúc còn trẻ. Ông từng dạy tôi lúc mới chỉ học lớp ba, lớp bốn, rằng thế nào là symphony, thế nào là serenat, thế nào là conserto… khi nghe symphony thì con nên chú ý những gì…? Tôi chỉ mơ vậy, những mong để vong hồn cha tôi được thanh thản, trước khi được vùi xuống dưới ba tấc đất!

…………….

Cũng giống như thiên hạ, nhà tôi lập bàn thờ cha tôi như tập quán người Việt. Ngày nào cũng hương khói, cúng cơm, hoa quả tươi cho đủ 49 ngày.

Một buổi sáng, sau tang cha tôi khoảng chục ngày, có một người đàn ông đến tìm cha tôi. Người đàn ông lạ bước vào nhà, bỗng sững người… không dấu được thái độ lưỡng lự, khi nhìn thấy bàn thờ cha tôi đang hương khói. Ông khẽ khàng cúi chào mẹ tôi, và thay vì nói lý do mình đến, ông thưa:

“Cháu xin lỗi, thế này nghĩa là bác trai mới mất ạ?”.

Mẹ tôi trả lời:

“Vâng đúng! Xin cho hỏi anh là thế nào?”

Người đàn ông đáp:

“Dạ, thưa bác, cháu là Long, con của ông Đôn bên phố Hai Bà Trưng! Bố cháu xin lỗi vì mệt không sang được, nên nói cháu đi thay. Thưa bác, ông Phạm Duy ở bên Mỹ về nước, nhân dịp này, ông ấy nhờ bố cháu thay mặt, mời giúp các bạn bè thân thích đến gặp mặt tại… Cháu xin lỗi bác, vì đến đây mới biết bác trai đã qua đời… Cháu rất tiếc. Cháu về sẽ xin thưa lại với bố cháu ạ!”.

Nói xong, anh Long xin phép đến trước bàn thờ cha tôi thắp một nén hương.

Ngày hôm sau, thấy tôi về, mẹ tôi hớt hải, nhưng thái độ kiềm chế, nhỏ nhẹ kể lại cho tôi một cách run rẩy sự việc anh Long, con bác Đôn đến nhà. Bà hỏi tôi:

“Con biết ông Đôn không? Phạm Văn Đôn (1918-2000) thì phải, anh con trai (sau này tôi mới biết, anh Long là con rể) sang chuyển lời mời gặp mặt của ông Phạm Duy mới từ Mỹ về…”.

Giọng bà nghẹn ngào với nước mắt:

“Khốn khổ, bao nhiêu năm rồi, bạn bè giờ có dịp gặp lại nhau, thì ông ấy lại ra đi mất rồi… khổ thân ông Dực quá. Mà thôi con ạ, dù gì, ông Phạm Duy cũng là chỗ thân tình từ ngày xưa. Mẹ nghĩ, con cứ sang gặp bác Đôn một chút, chẳng biết các ông ấy có ý định gì…?”.

Tôi đồng ý ngay bởi lẽ, chí ít, để một vòng khép kín, mình cũng nên gặp bác Đôn một lần, vừa là chính thức thông báo việc cha mình qua đời, qua ông ấy, có thể sẽ đến tai nhiều người bạn khác của cha tôi. Tôi cũng đã từng nghe cha mình nói việc hay sang nhà ông Đôn ở Hai Bà Trưng, tôi chỉ biết mang máng. .

Thực tế, đây là bản in bài viết của Việt báo Kinh tế, ngày 22/8/1999, phát hành bên Mỹ, tường thuật lễ tang Thái Hằng. Phạm Duy chỉ chua thêm cho Nguyễn Dực ở phần giấy trống phía dưới, không phải là bức thư viết tay

Hai ngày sau, tôi tìm đến nhà ông Đôn. Tôi hỏi thăm hàng xóm ở số nhà mà tôi biết ngờ ngợ, rằng bác Đôn ở chỗ nào? Nghe đâu, ông Đôn là họa sĩ có tiếng ở Hà Nội, nên mấy người hàng xóm chỉ ngay, ông Đôn họa sỹ chứ gì? Đấy..đấy…trên gác hai ấy!

Tôi thản nhiên leo lên gác, vừa đi vừa tưởng tượng ra cảnh ông Đôn sẽ xúc động thế nào, khi biết mình là con trai ông Dực, người bạn vừa qua đời của ông…

Đặt chân lên tầng hai, tôi gặp ngay một người phụ nữ mà tôi đoán, cũng chỉ hơn tôi vài ba tuổi. Tôi hơi áy náy vì thấy người phụ nữ mang vẻ mặt căng thẳng, tôi thưa:

“Xin lỗi chị, tôi muốn tìm bác Đôn ạ!”.

Người phụ nữ liếc mắt sang phía tôi, rồi quay đi hướng khác, sẵng giọng :

“Anh có việc gì?”.

Tôi đáp:

“Dạ không có việc gì đặc biệt đâu ạ, chỉ là được biết bác Đôn nhắn ông bố tôi đến dự buổi gặp mặt với ông Phạm Duy….”.

Tôi chưa nói hết câu, người phụ nữ buông giọng với vẻ mỉa mai:

“A! lại chuyện ông Duy à? Anh tìm ông Phạm Duy chứ gì? Anh cứ lên thẳng khách sạn MERITUS nhá, anh biết đầu đường Thanh Niên chứ… Đấy, đấy. Cứ hỏi ông Phạm Duy ở phòng 1231 ấy…”..

Vâng, tôi quá biết cái khách sạn 5 sao MERITUS, nằm trên mảnh đất số 3-5 phố Phó Đức Chính, nơi mà trước đó, năm 1987 đã khai sinh ra Vinaconex. Vả lại, tôi đã tổ chức sinh nhật mình lần thứ 50 tại đó. Ngày ấy, tôi hơi ngông nghêng, đắc chí nghĩ rằng, Tạo hóa đã cho mình được đón tuổi 50, may mắn quá, chứ thực tế, tôi chết hụt nhiều lần lắm từ hồi chiến tranh, nên bây giờ phải làm cho thịnh soạn.

Tôi biết, ngày ấy, cái khách sạn MERITUS đó nó sang trọng cỡ nào.

Tôi thấy cay cay mũi… Chỉ hai phút đối thoại với người phụ nữa đó, tôi đã nhận ra  có điều gì đó chung quanh việc ông Phạm Duy về Hà Nội. Thôi, tôi không bàn đến thái độ, nhưng điều gì đã kích động người đàn bà đó, để bà ‘ném’ vào mặt tôi những lời nói sống sượng đến như vậy?

Nhìn vào mặt tâm lý, một người đang ở trạng thái tinh thần căng thẳng, vô tình xuất hiện người lạ có ý cần mình, do đang bất bình về điều gì đó, thì với người ít lý trí, sẽ không phải thận trọng, mà lập tức họ trút cái khó chịu vào đối tượng mới xuất hiện. Hay bà thấy tôi có vẻ ít tuổi hơn, non hơn, nên bà đã hành xử như vậy? Cái lối tư duy‘mày là thằng nào?’ có sẵn trong đầu người Việt từ ngàn xưa.

Cũng không loại trừ, tôi đã là người thứ bao nhiêu đến ‘quấy rầy’ ông Đôn… về chuyện tìm gặp ông Phạm Duy?! Thường khi người ta bị ‘giao’ cho một kiểu trách nhiệm mơ hồ, lại không đem lại được thứ lợi ích tối thiểu nào, mà kéo dài, họ bị ức chế và phát sinh thái độ‘giận cá…chém thớt’. Tôi xem ra cũng là bình thường.

Tôi vẫn may mắn, vì đang lưỡng lự định quay lưng xuống cầu thang, thì ông Đôn từ trong phòng đi ra. Tôi mừng, vì dù sao tôi cũng được ‘cứu vớt’ chút thể diện trước người phụ nữ kia.

Tôi chào ông và thưa, rằng tôi là đứa nào…?

Ông Đôn với dáng vẻ buồn, trông hơi mệt mỏi. Bằng một động tác của sự ân cần, ông nắm cánh tay tôi, rồi ông chép miệng và nói một mạch:

“Khổ cho tôi, tôi có lỗi quá, làm sao mà tôi lại không biết ông Dực mất chứ, chết thật! Tội nghiệp quá, vì trước cái tuần ông ấy mất, sáng nào ông Dực chẳng qua nhà tôi, rồi hai người đi bộ sang Tràng Tiền mua báo…”.

Tôi cảm ơn những lời nói tiếc nuối như ân hận của ông Đôn. Tôi thưa lại:

“Mẹ cháu nói, cháu sang bác để có lời xin lỗi ông Phạm Duy… Vậy thôi ạ!”.

Ông Đôn khẳng định:

“Không sao, làm sao mà phải xin lỗi, chúng tôi mới là người phải xin lỗi chứ!”.

Tôi thấy đến đây là đủ, tôi đã nhìn thấy những góc khuất xa xa của sự việc. Ơn Trời, tôi vốn là kẻ nhạy cảm, trừ những lúc ngớ ngẩn!

Phạm Duy chụp tại khu mộ của gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh, tại nghĩa trang Bãi Sấu, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội, trong lần về quê với ý định đi tìm mộ cụ Phạm Duy Tốn, xong không thành
Lần về thăm cội nguồn này, chị em Thái Hằng, Thái Thanh đã cung tiến dân làng Phượng Dực bức tượng Phật bà Quan Âm, dựng ngay tại trước cổng chùa làng)

Tôi quay về với mẹ mình. Lòng dạ nặng trĩu, tôi nghĩ, kể từ hôm ông Long xuất hiện, đến hôm nay đã là ba ngày rồi. Chuyện ông Đôn thay mặt ông Phạm Duy, chuyển lời mời bạn bè tới dự buổi hội ngộ sau 50 năm gặp lại, chắc thông tin phải được thông suốt và kịp thời chứ. Việc tổ chức, sắp đặt, rồi đón và tiếp, dù chỉ là một buổi ngồi trà nước xã giao, cũng không thể được chăng hay chớ.

Tôi đặt giả thiết, liệu ông Phạm Duy đã biết tin Nguyễn Dực mới mất rồi không? Nếu chưa, thì có phải do ông Đôn không? Còn nếu ông Phạm Duy biết, mà không hề có động thái phản hồi nào, thì như thế có bình thường không? Rồi, để xem mọi sự sẽ thế nào?!

Tôi không thể không suy nghĩ về tất cả những gì mình biết, chung quanh mối quan hệ giữa cha tôi với nhạc sỹ Phạm Duy.

Về đến nhà, tôi thấy gương mặt và  thái độ của mẹ tôi đầy sự trông đợi… Khổ thân bà, bà trông chờ điều gì nhỉ? Bà mong ngóng điều gì nhỉ?

Tôi không kể lại với bà những gì tôi vừa trải qua tại cuộc gặp ở nhà ông Phạm Văn Đôn. Tôi chủ quan, nói dứt khoát:

“Mẹ ạ, từ nay, mẹ có thể đừng bao giờ nhắc đến ông Phạm Duy nữa, đừng bao giờ mẹ thổn thức khi nghĩ lại những gì đã có giữa cha và ông Phạm Duy nữa. Tất cả những cái ngày xưa ấy qua mất rồi! Qua rồi! Làm sao mà…???”.

Cũng lạ, là tôi áp đặt với mẹ mình như thế, về một chuyện nghiêm túc như thế, nhưng bà tuyệt nhiên không thắc mắc gì về buổi gặp giữa tôi với ông Đôn? Bà lại nức nở bảo tôi:

“Khổ quá, mẹ có mong đợi gì đâu. Mẹ chỉ nghĩ, những ngày khốn khó hồi kháng chiến, có được nhau đã là quý. Lúc ấy thì ai cũng khổ, chia sẻ được với nhau cái gì thì quý cái ấy. Mà hai ông thân nhau từ hồi trường Kỹ nghệ đấy, lúc ấy còn trẻ con, 15, 16 tuổi chứ bao nhiêu… Thôi, con nói như thế, mẹ cũng chẳng bận lòng làm gì nữa!”.

Hai tháng sau, họa sỹ Phạm Văn Đôn qua đời, và một năm sau mẹ tôi cũng ra đi.

……………

Ngày ấy, qua những mối quan hệ đan xen (chuyện hơi dài dòng một chút), tôi được quen với một gia đình quân đội ở khu tập thể Lý Nam Đế. Bà có tên là Hà (bà còn được gọi là Lợi) và có người con trai lớn là Mỹ, từng là cầu thủ. Gia đình bà Hà là họ hàng gần với gia đình Đặng Xuân Thiều (1909-1965), Đặng Hồi Xuân (1929-1988), đồng thời bà từng là con dâu của một nhà tư sản có tiếng ở Hà Nội.

Ngày bà Hà biết tôi là con ông bà Dực, cháu nội cụ Vĩnh, bà mừng lắm, vì thế, cứ mỗi lần tôi đến chơi, bà lại thao thao bất tuyệt kể những chuyện ngày xưa, những kỷ niệm với cha mẹ tôi, và cả các bác, các chú tôi nữa.

Bà Hà từng kể lại:

“Hồi ở Thanh Hóa, lúc ấy mày chưa đẻ, ông Dực bị du kích nghi là bọn tư sản ở Hà Nội, chạy trốn về vùng tự do, họ đã bắt và tuyên bố tử hình ông Dực đấy” (chuyện này cha tôi có ghi trong hồi ký của mình).

Người biết rõ gia đình Nguyễn Văn Vĩnh và vai trò công tác trong kháng chiến của Nguyễn Dực, chính là Đặng Xuân Thiều, là anh họ của bà Hà, người có danh trong bộ máy Việt Minh, và ông đã đứng ra bảo lãnh Nguyễn Dực, đó cũng là lần thứ hai Nguyễn Dực bị kết án tử hình.

Do mối quan hệ khá sâu nặng như vậy, bà Hà lại là người được trực tiếp chứng kiến cuộc sống của gia đình tôi, vì ngày đó, gia đình bà cũng đi tản cư ở một địa điểm gần Yên Định, Thanh Hóa, hơn nữa, cũng đã biết nhau ở Hà Nội từ trước.

Ngoài ra, bà Hà cũng rất biết gia đình nhạc sỹ Phạm Duy, và quen Phạm Duy. Xin thưa, Hà Nội đến bây giờ vẫn nhỏ, một khi lớp người cũ nói về các mối quan hệ ngày xưa. Bà Hà đúng là nhân chứng của gia đình Nguyễn Dực lúc ở kháng chiến.

Chuyện nhạc sỹ Phạm Duy về nước, bà Hà biết rõ. Chuyện cha tôi qua đời, bà Hà và người con trai lớn cũng đến viếng.

Rồi một ngày, tôi đến chơi, thăm sức khỏe bà, nhìn thấy tôi, bà Hà hớn hở:

“A, thằng Bình đây rồi! Mày vào đây bác nói chuyện này cho mà nghe, chuyện liên quan đến bố mày đấy. Mày biết không, bác mới vào Sài Gòn ra đấy. Ối giời ơi, hôm ấy là…bác gặp cái ông Phạm Duy nhá, này, mày biết không, chuyện trò hỏi thăm nhau một lúc, vui vẻ lắm…

Trước mặt mọi người, bác hỏi thẳng ông ta nhá, bác bảo: Tôi hỏi anh, anh Dực chết, anh biết, đúng không? Vì lúc đó anh mới về và đang ở Hà Nội, nhưng tại sao anh không đến thắp nén hương cho anh Dực? Tại sao chứ? Còn nhiều chuyện nữa, nhưng thôi… Tôi chỉ hỏi, tại sao anh không đến chia buồn với chị Dực một câu?

Bình ạ, mày biết không, ông ấy im, không nói năng gì mới lạ chứ. Đấy, mày thấy không, bác là cứ thẳng tưng. Làm sao chứ, làm sao mà lại thế được chứ…?”.

Kết

Ngày 21/3/2020, nhân sự việc tang lễ ca sĩ Thái Thanh, tôi nhận được tin nhắn điện thoại. Người gửi tin nhắn lấy bài trên trang Fb. Ly Le, bài viết của tác giả Hạ Đình Nguyên, đăng trên Phụ nữ online (PNO) từ năm 2017, về một vài tâm sự của nhạc sỹ Phạm Duy. Chủ trang Fb. Ly Le đăng bài viết của PNO, và kèm thêm bức ảnh đám cưới Phạm Duy với lời chú thích có tên ông nội tôi: Nguyễn Văn Vĩnh và tên cha tôi, Nguyễn Dực.

Vì là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy bức ảnh chụp khá sinh động này, tôi chia sẻ ngay cho một vài người thân, kèm lời giả thích ngắn về lý do, vì sao cha tôi có mặt trong đám cưới Phạm Duy?! Đồng thời, cũng là lời cảm ơn gửi tới người bạn đã chuyển cho tôi cái tin nhắn quý hóa đó.

Đám cưới Phạm Duy 1948. Nguyễn Dực đứng thứ hai từ phải sang trái

Những người bạn nhận được bức ảnh đều ngạc nhiên, vì tại sao cha tôi có mặt trong đám cưới nhạc sỹ Phạm Duy chứ?! Mọi người thích thú khen bức ảnh từ ngày xưa, nhưng nước ảnh còn khá đẹp, và họ đều cho rằng nó… rất quý!

Tôi suy ngẫm hơi chua chát, rằng mọi người đã nghĩ gì, khi nói bức ảnh đó rất quý?! Và, tôi có thể đã sai khi đòi mọi người phải là mình.

Những người bạn nhận được bức ảnh, phản hồi ngay và sốt ruột muốn biết, quan hệ giữa Phạm Duy và Nguyễn Dực là thế nào? Có người còn thốt lên qua điện thoại: Bố ông ‘kinh’ nhỉ! Thế tại sao… thế này, tại sao hồi ấy…? Sao bây giờ ông mới nói? Tôi thoáng chạnh lòng, rằng liệu có phải bố tôi là người ‘vinh dự’ được có mặt trong đám cưới của một người nổi tiếng?

Nhân loại thường hay bị choáng ngợp trước những sự tán dương đông đảo, nhất là trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Hình như ai cũng sẵn sàng trở thành nô lệ cho sự sùng bái? Thật không dễ để hiểu cho thấu đáo thuộc tính này của loài người.

Tuy nhiên, tôi không trách cứ gì các bạn mình, vì ngay đến nhiều người ruột thịt của tôi còn chẳng biết nữa là.

Tôi giữ nhiều bài học về danh và tiếng. Không ít những nhân vật ‘nổi tiếng’, nhưng khi biết rõ cuộc sống đời thường của họ, người đời đã không khỏi thất vọng. Thật chẳng tế nhị chút nào nếu tôi kể ra đây cụ thể, để minh họa cho điều này.

Tôi biết, có những người ‘nổi tiếng’ đã từng làm đau những người thân của mình, khi nói về phẩm cách, lối sống, đến mức còn làm cho những người ruột thịt có lòng liêm sỉ, phải ngượng ngùng rơi nước mắt khi nhắc đến tên họ.

………………

Tôi biết, nhạc sỹ Phạm Duy thật nổi tiếng, vì ông là một trong những người đi đầu trong dòng nhạc mới, khi Việt Nam bắt đầu có nền văn hóa chữ viết Quốc ngữ. Giai điệu, tiết tấu trong các tác phẩm của ông, ca từ trong các bài hát của ông, là những hình ảnh sâu nặng về lịch sử của một Việt Nam nghèo khổ, đau thương, và tương tàn, nhưng đầy chất thơ và tình người.

Học lớp 8, tôi được một người bạn cầm cây ghi ta, hát khe khẽ cho nghe bài ‘Ngày Trở về’, tôi cứ day dứt mãi. Sau 1975, tôi mới dám ‘thử’ tìm nghe giọng hát Thái Thanh qua bài ‘Quê nghèo’,‘Nhớ người ra đi”, để biết vì sao, các bác các chú tôi hay suýt xoa,  ngưỡng mộ khi nhắc đến giọng hát khác người của ca sĩ này.

Mặt sau chiếc phong bì của Phạm Duy gửi báo tin tang lễ Thái Hằng. Hai câu thơ này không rõ ai là tác giả, nhưng nét chữ là của Nguyễn Dực

Năm 2007, khi làm hậu kỳ cho bộ phim tài liệu lịch sử về học giả Nguyễn Văn Vĩnh ‘Mạn đàm về Người Man di hiện đại’, đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng Trần Văn Thủy, đã xin sử dụng đoạn nhạc dạo của bài hát ‘Bà mẹ Gio Linh’ cho phần mở đầu của cả bốn tập của bộ phim… Xin thưa, tất cả đều của nhạc sỹ Phạm Duy.

Bởi vậy, tôi đã hứa với các bạn quan tâm, rằng sẽ viết về quan hệ giữa cha tôi với nhạc sĩ Phạm Duy, vì ở một góc nào đó, nó cũng là điều thú vị. Nhưng cũng có người ngần ngại khi hiểu nôm na sự thể, và nhắc tôi rằng, nếu là chuyện buồn, thì “Thôi anh ạ, nó đã qua rồi, cứ để như mọi người biết… Nhắc lại chỉ thêm buồn!”.

Tôi đắn đo nhiều lắm, nhưng hỡi ôi, sự thật trần trụi trên thế gian này, luôn là thứ thô ráp và chua chát mà.

Khi tôi hình dung con người Phạm Duy qua bài ‘Nhớ người ra đi’, viết trong những năm kháng chiến chống Pháp, tôi thấy chao ơi là sự khó hiểu.

Làm sao, một con người nghĩ đến được những hình ảnh nhân ái, nhân hậu, và cả nhân đạo nữa…lại ứng xử lạ lùng với cha mẹ tôi như thế?

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương đàn trẻ nhỏ
Đùa trong nắng ngây thơ
Cùng nhau hát líu lo, ngoài ngõ
Nhưng mỗi khi dưới mái nhà mênh mang
Ngừng chơi nắm tay mẹ, hỏi rằng
Rằng: Cha chúng con đâu…?

Tôi luôn tự vấn, là những kẻ hiểu biết có trách nhiệm, cần dũng cảm nói với người không biết những góc khuất có liên quan đến nhiều người. Sự ‘dĩ hòa’ nhiều khi trở thành thỏa hiệp. Cuối cùng, tôi viết ra là để mong cho cuộc đời này sáng hơn, tránh được bóng tối của những nỗi xót sa, tủi hờn, bớt đi những điều đáng tiếc.

Người hiểu biết thường nhân hậu, và ít làm những điều dại dột!

Hai vợ chồng ông bà Nguyễn Dực

Quá khứ của cả gia đình nhỏ và gia đình lớn của tôi, là một phần không nhỏ trong lịch sử của đất nước này, cái lịch sử mà thế kỷ qua, những kẻ có trách nhiệm đã tự xắp đặt nó theo ý mình.

Sự áp đặt mang tính cường bạo đó đối với lịch sử, đã làm cho chúng ta bị lùi sâu xuống trước những tiến bộ và văn minh nhân loại, và phải đứng gần cuối bảng xếp hạng của thế giới về tính minh bạch xã hội. Dù hôm nay, Việt Nam cũng có rất nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi đắt tiền và cả những tỷ phú kinh hoàng… hiện thân của một xã hội phù hoa, hào nhoáng.

Khi được nghe tôi kể lại nhiều sự việc trong gia đình, thay vì sự đồng cảm và chia sẻ, có người bạn đã đặt ra câu hỏi: Tại sao hôm nay chúng tôi mới được nghe nói? Tại sao không thấy trong lịch sử ‘chính thống’? Có chuyện gì phía sau nữa đây…?

Chính câu hỏi vì sao đó, tôi thấy càng cần phải viết ra, trước tiên dành cho chính những người thân của mình, vì không phải ở góc nhìn nào họ cũng thấy được rõ, thực chất, là để họ có dịp nghĩ sâu hơn về những giá trị của sự thật, của nguồn cội. Còn họ có thấy nó ý nghĩa đến đâu, thiêng liêng hay không, là quyền của họ.

Tôi xin lỗi những người là hậu duệ của gia đình nhạc sỹ Phạm Duy, và tuyệt nhiên tôi không mong hay muốn làm họ bận lòng khi đọc bài viết này.

Tất cả chúng ta, những người có ý thức quan sát đều hiểu rằng, sự nổi tiếng của giới nghệ sỹ và các chính trị gia, không đồng nghĩa với một người tử tế! Bởi lẽ họ có quá nhiều góc khuất khác đời, mà đôi khi, chính họ cũng không dám nhìn lại mình.

Tôi mãi bị dằn vặt khi nghe bài hát ‘Ngày trở về’, bởi lẽ:

“… Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ…”

Hà nội, tháng Tư năm 2020.

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Bài tham khảo: Phụ nữ online

3 Responses

  1. Đọc xong cả bài tuy tôi cũng thấy rất buồn, song tôi nghĩ tới một khả năng khác, có thể thôi.
    Vì là mới về lần đầu, nên vẫn hãy còn “kinh cung chi điểu”, mà nhà nước thì cho về để lấy tiếng là hoà hợp hoà giải, song nhà nước vẫn cho người đi “bảo vệ” í chứ. Đường đi nước bước đi đâu thì phải bẩm báo trước, trên có ừ mới được đi. Cho nên biết là bác Dực mất mà ko đến viếng cũng có khi là tội cái anh bảo vệ một nửa.

    Hồi bé, đôi khi tôi cũng theo ông bô đến thăm bác Dực chỗ cửa hàng mấy lần, là bởi hai cụ là bạn từ hồi mới đẻ ra cái nhà Đài, năm 45. Tôi biết cả bác Tý, cả cô Sửu, lại chơi với cả anh Tước, anh Lộc. Mỗi lần ông Độ về lại cầm giúp quà bên Pháp về cho nhà tôi.
    Tôi muốn hỏi thăm anh Bình thêm về một bức ảnh, mong anh giúp cho nhé. Cám ơn anh trước.

    1. Thưa anh Bùi Xuân Bách!
      Tôi rất cảm kích trước những hiểu biết và những tình cảm tốt đẹp anh dành cho cha mẹ và những người thân trong gia đình tôi.
      Tôi đang viết phúc đáp anh và các bạn facebooker, về bức ảnh chụp năm nhân sĩ tiêu biểu của BBT Đông Dương Tạp Chí 1913, và Trung Bắc Tân Văn 1917.
      Chậm nhất là thứ Bảy 9/5/2020 chúng tôi sẽ pos bài viết về nội dung bức ảnh này.
      Trân trọng!
      Nguyễn Lân Bình

      1. Vâng, cám ơn anh Bình nhiều. Cứ từ từ anh ạ. Tôi cũng biết là “Hà Nội không vội được đâu”. 🙂

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network