THỰC HIỆN.
Khác hoàn toàn với hệ thống giáo dục Phong kiến, ĐKNT nhận học sinh không phân biệt trình độ, tầng lớp, đối tượng xã hội. Tại đây, trường dạy các kiến thức phổ thông với mục tiêu khai mở sự hiểu biết cho người dân theo tinh thần khai sáng. Trường ĐKNT dạy bằng cả chữ quốc ngữ và Pháp ngữ, truyền bá những khái niệm cơ bản của nhân loại về thế nào là sự tiến bộ, là văn minh, là khoa học.
Một trong những gương mặt đáng kể của ĐKNT, nhưng đã bị giới nghiên cứu của các chế độ chính trị quay lưng, chính là Nguyễn Văn Vĩnh (NVV). Vậy vì sao giới nghiên cứu, đặc biệt là các nhân vật quyền lực có trách nhiệm, không dám làm rõ sự thật đến tận cùng về NVV, cho dù họ luôn để mắt đến việc luận bàn về con người này. Có phải, họ không muốn giúp cho hậu thế hiểu đúng, lịch sử là những gì đã có chứ không phải là những gì ta muốn!
Năm 1906, NVV đã không là kẻ tình cờ nhận chuyển ngữ bản kiến nghị viết bằng chữ Hán dài 30 trang, sang Pháp văn của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, gửi cho Toàn Quyền Đông Dương, được gọi là Đầu Pháp Chính phủ thư, một loại văn bản được lịch sử coi là văn kiện chính trị thời thuộc địa, thể hiện tinh thần đấu tranh ôn hòa, cầu thị và bình đẳng, không lụy cường quyền. Sự kiện này đã làm Phan Châu Trinh thầm phục tài năng và ý chí của NVV đến mức đã ‘ngầm’ (NVV tự thú) đến nhà riêng NVV ở số 39 phố Mã Mây, Hà Nội, để bày tỏ lòng thán phục, cảm ơn và khen ngợi khả năng chữ nghĩa của ông (8).
Ảnh phố Mã Mây chụp những năm đầu thế kỷ 20.
Ngôi nhà số 39 được cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh thu vén tài chính và quyết định mua vào khoảng năm 1905-1906.
Nhưng vấn đề không phải vì NVV giỏi tiếng Hán và chữ Tây để nhận cái công việc ẩn chứa nhiều hệ lụy chính trị này, mà đó là sự đồng thuận, ủng hộ cái nhãn quan chính trị của người viết. Tuy nhiên, đã sang thế kỷ 21, xong để nói về NVV, vẫn là nỗi ‘sợ sệt’ của không ít người, dù mọi người đều biết đâu là công lý đâu là sự thật!

Tờ báo L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) được thành lập với sự đóng góp của một số nhân sĩ, đây là hình thức trá hình với danh nghĩa công ty, mặc dù mục đích của Nguyễn Văn Vĩnh là muốn thành lập Hội đoàn nhằm đối chọi lại với nhóm chính trị chủ trương Quân Chủ Lập Hiến. Năm 1933, khi các vấn đề chính trị ở Đông Dương càng trở nên căng thẳng, nhân ngày giỗ Phan Châu Trinh, ông đã cho đăng lại toàn văn bản kiến nghị Đầu Pháp Chính phủ thư viết năm 1906
Năm 1907, các nhân sĩ người Việt tỏ ra bế tắc khi hai lần gửi đơn xin phép Nhà Cầm quyền mở trường ĐKNT, nhưng không có kết quả, NVV đã liều lĩnh cam kết với Lương Văn Can (1854-1927), Nguyễn Quyền (1869-1941), Lê Đại (1875-1951) rằng: “Để tránh mất thời gian chờ đợi, các ông cứ mở trường, cứ khai giảng, tiền trảm hậu tấu, giấy phép tôi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm….” (9). Sau sự kiện ĐKNT bị khủng bố, NVV còn nhận được lời cảnh cáo của kẻ quyền lực, rằng: “Ông Vĩnh này, Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy…!”.
Các ghi chép lịch sử dưới ngòi bút của các nhà nghiên cứu thời cận đại, đặc biệt là ở phía Bắc Việt Nam, đã luôn né tránh sự việc này, họ đã cố tình không đề cập đến chi tiết lịch sử mang tính định mệnh này của ĐKNT.
Họ cũng đã tránh cả việc nêu những chi tiết đặc trưng khác ở ĐKNT, như việc xuất hiện một môn học mới lạ mà ở các nước tiến bộ luôn coi là đỉnh cao của trí tuệ, đó là môn Diễn thuyết (thực chất là hùng biện). Nó dành cho tất cả những ai muốn trở thành những người dẫn dắt, thủ lĩnh các trào lưu tư tưởng. Đến hôm nay, điều này vẫn còn xa lạ ở Việt Nam.
Hùng biện hay biện chứng, giúp con người đến với phản biện ở một xã hội dân chủ. Hùng biện và phản biện chỉ phát triển trong một xã hội pháp quyền! Dù khi mới 25 tuổi, NVV đã là một trong số giáo viên ít ỏi, được phân công dạy môn học này vừa bằng tiếng Việt, và cả bằng tiếng Pháp. Khả năng này của Nguyễn Văn Vĩnh đã từng được thể hiện tại Hội quán Trí Tri từ những năm 1905, 1906 (10).
NVV nhận thấy xu hướng đòi canh tân của toàn xã hội là thật sự nóng bỏng, sau khi ông tiếp cận với một số các nhân sỹ tiến bộ Nam kỳ tại Sài Gòn năm 1906, trên đường ông sang Pháp lần thứ nhất bằng tàu biển (11). Đặc biệt sau đó, ông có liên hệ mật thiết và nhận đăng những bài viết bằng tiếng Pháp của nhà báo, nhà hoạt động chính trị có danh Nguyễn Phan Long (1889-1960) trên tờ báo tiếng Pháp do NVV làm Chủ bút “Notre journal” (Tạp chí của chúng ta), xuất bản tại Hà Nội năm 1909.
Để thay đổi được một nền giáo dục cổ hủ, chấm dứt lối học hình thức, thiếu tính tư tưởng, thiên về lối sống phù phiếm, chỉ đem lại lợi ích duy nhất cho những kẻ mộng mơ quan trường, ăn trên ngồi chốc, trong một bài viết bằng tiếng Pháp của NVV năm 1905, trả lời một nhân vật có tên viết tắt là H.D.M, ông đã mỉa mai việc ngài H.D.M cho rằng, sự có mặt của người Pháp Thực dân, đã giúp cho người Việt trở nên giàu có hơn trong bài “Une leçon de patriotisme” (Một bài học ái quốc).
Nhà văn Vũ Bằng (người giữ bản gốc) đã dịch bức thư đó sang quốc ngữ từ những năm 40, trong đó có đoạn:
“Ông M. lại nói rằng từ khi làm đại biểu hai xứ Trung Bắc, ông đã làm cho chúng tôi sung sướng… Có chúng tôi sung sướng thật, nhưng đó chỉ là một số rất nhỏ; mà muốn xét người Nam chúng tôi thì không thể xét như vậy được, ta phải nhìn vào người nhà quê. Còn về phần những người đi học thì các ông trách chỉ tơ tưởng làm quan, không biết học để mà giúp ích cho nước, nhưng chính các ông đã làm cho họ chỉ có thể mơ ước đến như thế mà thôi…”(11).
Thực tế, cho đến cuối thế kỷ 19, Nhà cầm quyền Nam kỳ đã liên tiếp có những quyết định hành chính áp đặt người dân và các cơ quan công quyền phải dùng chữ Quốc ngữ trong một số giao dịch xã hội, thì ở phía Bắc Việt Nam dân chúng vẫn thấy xa lạ, không quan tâm đến loại chữ viết này.
Ngay trên trang nhất của tờ báo phổ thông tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ Đăng Cổ Tùng Báo 1907 (ĐCTB) ra ngày 28/3/1907, ngài François-Henri Schneider, một người Pháp gốc Đức được coi là kẻ khai mở ngành xuất bản và in ấn ở Việt Nam, đã khẳng định trong bài viết của mình: “Đến năm 1893, tôi đã xin và được phép đặt ra ở Hà Nội một cái nhật báo bằng chữ Nho, vì khi bấy giờ ở Bắc kỳ chưa mấy người biết chữ quốc ngữ”.
Năm 1906, NVV đã tha thiết tìm mọi cách để phổ biến chữ Quốc ngữ với đồng bào của ông. NVV xác định, rằng xã hội phải có báo chí, vì đó là phương tiện chuyển tải hiệu quả nhất những tri thức của nhân loại đến dân chúng. Nhưng nếu làm báo in Quốc ngữ, vậy nội dung báo sẽ đăng gì trong khi đất nước chưa có nền văn chương của thứ chữ viết này?
Ông đã thực hiện việc dịch các tác phẩm văn học tinh hoa của nhân loại, chọn lọc đăng những tin tức mới lạ của thế giới về khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, thương mại trên tờ báo do mình là Chủ bút…. Ông chủ động với năng lực riêng, viết bài với nhiều bút danh khác nhau, tạo không khí sinh động về sự ‘tấp nập’ của một ‘Ban Trị sự’ với nhiều thành viên.
Việc này được hiểu là 2 trong 1, một mặt, giúp làm phong phú tiếng Việt hơn, từ đó tạo sức hút với công chúng. Mặt khác, tờ báo là một cửa sổ kiến thức mới đối với dân chúng, rằng nếu muốn biết những điều hay, mới và lạ, hãy học chữ Quốc ngữ, vì học được thứ chữ này, sẽ xem được báo và họ cũng sẽ mua báo.
NVV không giấu giếm ước mơ độc đáo đó của mình, trong một bức thư viết ngày 27/6/1906 từ Đấu xảo Mác Xây – Pháp gửi về cho Phạm Duy Tốn, người bạn chí cốt của ông, NVV tâm sự: “Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhoà trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”.
Vô tình, hữu ý, NVV đã phát động cuộc cạnh tranh giữa chữ Quốc ngữ với chữ Hán, chữ Nôm và cả Pháp ngữ. Điều này đã tác động đến việc hình thành một nền giáo dục hiện đại bằng chữ Quốc ngữ. Từ sự khởi đầu này, dần hình thành nền văn học chữ Quốc ngữ trong những thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20 ở Việt Nam.
Những cuốn sách hiếm được Nguyễn Văn Vĩnh soạn thảo cho xuất bản vào những giai đoạn đầu,
khi ông kêu gọi toàn dân sử dụng chữ Quốc ngữ, đã được trưng bày trong buổi lễ kỷ niệm 80 năm ngày giỗ ở Hà Nội.
QUYẾT LIỆT
Trên chặng đường cổ xúy chữ Quốc ngữ ở phần phía Bắc Việt Nam, NVV đã nỗ lực chứng minh năng lực toàn diện của thứ chữ viết tiếng Việt, bằng việc khuyến khích các nhân sĩ ưu tú dịch các tác phẩm văn học nổi tiếng nước ngoài ra chữ Quốc ngữ, tạo hấp lực lôi kéo toàn dân, mở ra một thế giới mới trước nhãn quan xã hội. Phục vụ mục tiêu này, ngày 25/7/1907, NVV đã ra lời kêu gọi lập Hội dịch sách Bắc kỳ, và đăng trên tờ Đăng Cổ Tùng Báo.
Trong lời nói đầu của bộ truyện dã sử Trung Hoa, Tam Quốc chí Diễn nghĩa xuất bản năm 1909 được NVV và Phan Kế Bính dịch trọn bộ ra chữ Quốc ngữ, ông đã tôn vinh cái tiện lợi của một loại chữ viết với đồng bào mình như sau:
“Chữ quốc – ngữ thời nay người An nam ta cũng đã nhiều người học lắm. Nên vui thay! Xưa kia đàn ông ta dùi mài bao nhiêu lâu, tốn bao nhiêu cơm cha mẹ, mới cầm được quyển sách; miệng ngâm, đùi dung, mà vị tất trong bụng đã được cái lý thú gì là lý thú thực; thế mà nay không những là anh em mình, nào đàn bà, nào con gái, cho trí trẻ con, cũng đã cầm được quyển sách đọc; mà đọc chữ nào biết chữ ấy quả là ngấm – nghía vào trong lòng trong ruột.
Cái hạnh – phúc ấy, cái điềm hay cho hậu vận nước Tổ – Việt ta ấy, là nhờ ở như chữ quốc – ngữ. Chữ đâu mà hay thay! mà dễ đọc thay! gốc hai mươi ba chữ, năm dấu soay vần, mà tiếng nước Nam bao nhiêu cũng viết được đủ.
Chữ quý hoá chưa! học vài ba tháng mà tay đã cầm được quản bút, đến chốn chẳng cần ai!…”.
NVV đã chuyển tải những nét tinh túy trong văn hóa không phải chỉ có ở văn học phương Tây, không phải chỉ thấy ở văn học cổ Trung Hoa, mà ông còn đề cao cả văn học chữ Nôm vốn còn nghèo và ít được phổ biến, bằng cách chuyển ngữ ra chữ Quốc ngữ, điển hình là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Năm 1912, Nguyễn Văn Vĩnh cho ra mắt cuốn Kiều in chữ Quốc ngữ (có tài liệu ghi chép Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ 1906). Chỉ trong một năm, cuốn sách này được tái bản đến ba lần, và lần nào bản dịch cũng được hiệu đính, chỉnh sửa phụ thuộc vào cách tư duy, vốn hiểu biết của ông phát triển đến đâu. Cũng trong lời tựa của cuốn sách dịch này, NVV tiếp tục khẳng định con đường làm phong phú hóa chữ viết tiếng Việt sẽ có giá trị ra sao đối với văn học:
“Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn chương nước Nam…”.
Với chi tiết này, NVV đã chứng minh, rằng ông tuyệt nhiên không hề là kẻ sính ngoại như vu cáo của những kẻ thiển cận trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là chưa nói đến, ông là người thành công nhất trong việc dịch toàn bộ Truyện Kiều ra Pháp văn, và NXB Alexandre de Rhodes đã phát hành năm 1942 tại Hà Nội, chứng minh với kẻ cai trị mình cái tinh tế và sâu sắc của văn hóa nước Nam.
Cuốn truyện Kiều bằng chữ Quốc ngữ được Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản lần thứ nhất vào năm 1913 tạ Hà Nội.
Năm 1913, khi NVV làm Chủ bút tờ báo thuần Việt đầu tiên ở Việt Nam – Đông Dương Tạp Chí (ĐDTC). NVV đã thành công trong việc quy tụ được sự tham gia của hầu hết các nhân sĩ xuất sắc nhất Bắc và Trung kỳ tại thời điểm đó. Ban Biên tập của tờ báo, là sự tổng hòa sức mạnh trí tuệ của một tầng lớp tri thức tinh hoa người Việt. ĐDTC là tờ báo tiếng Việt đầu tiên hướng dẫn, dạy người dân cách viết văn bằng Quốc ngữ (Đánh giá của TT, Lưu trữ Quốc gia 1), thổi một luồng gió mới về tinh thần, nâng cao giá trị của con chữ tiếng Việt.
Chứng minh quan điểm đúng đắn của NVV, về sự bất hợp lý trong việc dùng chữ Hán và Nôm ở Việt Nam cho hệ thống giáo dục và thi cử, NVV nói:
“Như nước Nam ta có học hành đã mấy nghìn năm nay, mà tư-tưởng vẫn hẹp hòi, người vẫn ngu dốt, cũng vì tại đi học chữ mượn. Một người cầm quyển sách mà có hiểu ra nữa, thì cũng là chỉ hiểu lấy một mình, nữa huống chi là lõm bõm chữ biết chữ không. Mà sự không hiểu ấy, cũng không phải là tại ngu độn gì”.(12)
Với phương tiện hữu hiệu là báo chí, NVV đã ngày càng trở nên hưng phấn với cỗ xe văn hóa do mình cầm lái, để chuyển đến từng người dân ở mọi miền đất nước cái thông điệp:
Nước Nam sau này, hay dở cũng ở như chữ Quốc ngữ!
Cũng trên ĐDTC, Nguyễn Văn Vĩnh đã không ngần ngại so sánh chữ Quốc ngữ với chữ Nho (Hán) theo cách nhìn khách quan nhất, ông lập luận:
“…Chữ-nho là một lối văn-tự cũ của nước Tầu, là một nước cho ta mượn văn-minh, phong-tục, tính-tình; chữ ấy sang đến nước ta, đổi cả cách đọc, đổi cả lối dùng, mà lại thấm nhiễm vào tiếng-nói của nước ta; lại thành ra một thứ văn riêng cuả đám thượng-lưu ta dùng, tuy là mượn cuả Tầu, mà có điệu riêng, hay dở không giống như hay dở cuả văn Tầu.
Thế thì cái địa-vị chữ-nho ở nước ta cũng khác nào như địa-vị chữ la-tinh ở bên nước Đại-pháp…. nên để hay nên bỏ chữ nho? cứ việc xem bên nước Đại-pháp đãi chữ la-tinh thế nào, thì ta nghĩ ra được ngay cách nên đãi chữ nho như thế… Chữ nho không phải là một lối chữ học gọi-là được. Đã biết phải biết hẳn, không biết thì thôi, biết răm ba chữ, học một vài năm, thì có biết được mấy chữ cũng không được việc gì.”. (Chữ Nho nên để hay là nên bỏ – ĐDTC số 31, ngày 22/12/1913).
Việc NVV chỉ ra rõ sự bất lợi của nền giáo dục Nho học, cần dừng lại vai trò lịch sử của nó, không có nghĩa là để người dân Việt đến với tiếng Pháp, hỗ trợ chính sách cai trị của kẻ xâm lược, như đánh giá trong một số văn kiện của những người Vô sản Việt Nam trong những thập niên 30 và 40 ở thế kỷ 20 (13).
Quan điểm của NVV về vai trò của Pháp văn đối với người dân Việt Nam đã được ông lý giải như sau, vẫn trong bài viết số 31 của ĐDTC:
“Lối thứ hai là lối học riêng cuả dân an-nam, đặt ra cho phần nhiều, cho trẻ con các nhà-quê, thực là một lối mới, xưa nay không có, vì lối học nho ngày xưa, không phải là một lối học phổ-thông, thực là một lối học đi làm quan Tàu, với cũng như lối Pháp-việt học bây giờ là lối học đi làm việc với nhà-nước Đại-pháp. Nhưng ai cũng muốn làm quan cả, cho nên ngày xưa đua nhau học nho thế nào, từ nay giở đi đua nhau học vào lối Pháp-việt cũng thế!”.
NVV đã khẳng định hình mẫu của nền giáo dục hiện đại khi dùng chữ Quốc ngữ, và ông kiến nghị:
“Còn lối học riêng mới, cũng đặt ra tiểu-học, trung-học, lấy quốc-ngữ làm gốc, mà học cách-trí, vệ-sinh, địa-dư, phong-tục, mỗi thứ một đôi chút, để gây cho lấy nhân-cách cuả phần nhiều người trong dân an-nam, thì xét ra thực là một lối nhà-nước bảo-hộ mới gia ân đặt ra, không tỉ được với lối học nho cũ, mà cũng không tỉ được với lối học Pháp-việt”.
Kết luận cuối cùng, để định hướng cho nền giáo dục lấy chữ Quốc ngữ làm căn cốt, sớm biến thành quốc sách, NVV bóc toạc cái bất bình thường của một nền văn hóa vay mượn, của cái bóng tối bao trùm lên cả một dân tộc suốt nhiều thế kỷ, bằng cách nhấn mạnh:
“Té ra nước ta xưa nay vẫn có tiếng là đất văn-vật, mà hóa ra một nước không có văn-chương; cử, tú, thám, trạng (chức danh, học vị của hệ thống giáo dục Phong kiến. B/t) của mình, té ra xưa nay rung đùi đánh chén, chỉ thú có việc ngâm nga chữ nghĩa của người; còn những tiếng trình thưa với mẹ, những tiếng ân ái của vợ chồng, anh em, bè bạn nói với nhau, không ai biết thú đến, tuy rằng hàng ngày phải dùng đến, mà khi phải viết ra, thì lại đi mượn văn-tự người mà dịch; khi muốn ngâm nga vịnh đọc lại phải đi nhờ cái điệu chi, hô, dã, hĩ, dả, tai (những hư tự của văn cổ Trung Hoa. B/t), thì mới ngâm nga vịnh đọc; thành ra tính tình không có thực-tả; nhời ca điệu đàn không ngụ được thật-tình.
Nay người ta hỏi nước văn-vật, nào chữ-nghĩa nước văn-vật có những sách gì làm kỷ-cương, làm kinh-điển, những cái hay, những cái tài tình xuất xứ ở nơi mô, thì nọ có sách gì mà giơ ra được”. (ĐDTC số 40, bài Tiếng An nam, ngày 19/2/1914).
Phạm Thế Ngũ (1921-2000), một nhà giáo, nhà nghiên cứu danh tiếng, khi nói về NVV, ông đã xác nhận như sau: “Ông nhìn cái xã hội Việt Nam cũ kỹ ngàn xưa, chồng chất những thế hệ hủ bại, thâm nhiễm những tư tưởng lỗi thời, ông tìm cách để đưa văn minh vào lọt mấy cái cổng gỗ làng An nam” (14).
Ảnh chụp cổng làng Đông Ngạc
Chú thích:
8: Xem chú thích số 6.
9: Ngày 11/12/1907, Nguyễn Văn Vĩnh gửi văn bản tới ngài Hauser – Đốc lý Hà Nội, phản đối việc khủng bố Phong trào ĐKNT. (Năm 2006, chúng tôi chụp bức thư này tại TT. Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp- CAOM).
10: Nguyễn Văn Tố viết bằng tiếng Pháp trên Tạp chí của Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh số 1 và 2 năm 1936 (người dịch nhà giáo Phạm Toàn).
11:Vũ Bằng trên Trung Bắc Chủ Nhật số 204, 205 phát hành tại Hà Nội năm 1944.
12: Diễn văn ngày 8/8/1907 trên ĐCTB nhân ngày thành lập Hội Dịch sách.
13: Cuốn sách Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, ấn hành năm 1988. trang 43.
14: Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, NXB Đồng Tháp 1988.
Hết phần thứ hai.




One Response