DẤU ẤN TÂM LÝ (Bài viết chia buồn với đám tang của ông J.McCain)

Tôi là kẻ thường coi chuyên mục GÓC NHÌN của VnExpress là lăng kính cuộc sống.

Đọc bài “Ký ức John McCain” của tác giả Sandy Hòa Đặng, tâm trí tôi trào dâng khi nhớ đến quá khứ của cuộc chiến tranh điên rồ giữa Mỹ và Việt Nam, mà tôi cũng được nhân danh là người trong cuộc.

Đoạn tác giả viết nhắc đến những cuộc gặp gỡ, đối thoại với những quân nhân Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam, đến những ký ức đau buồn về những hình ảnh máu xương muôn đời ám ảnh họ, tôi lập tức nghĩ đến một người đồng nghiệp chỉ hơn tôi một tuổi, nhưng tuổi quân của anh sớm hơn tôi đến 3 năm (anh nhập ngũ 1968), và anh là lính bộ binh. Anh tên là Hóa.

Cuộc sống vô tình, đã đưa tôi và anh Hóa trở thành đồng nghiệp từ những năm 90.

Trong những năm chúng tôi cùng làm việc ở cái cơ quan danh tiếng, thuộc một Bộ lớn danh, tôi và anh ngồi chung trong một phòng làm việc. Hàng ngày gặp nhau, trò chuyện trao đổi, đương nhiên là nội dung các câu chuyện sẽ không chỉ là những vấn đề liên quan đến công việc.

Một hôm, lãnh đạo cơ quan mời những người đã từng nhập ngũ, tham gia trực tiếp  chiến đấu từ 1965 đến 1975 ở mọi chiến trường, đến họp trù bị về việc dự kiến thành lập một tổ chức cấp cơ sở, được gọi chung là ‘Cựu chiến binh’. Cấp lãnh đạo lưu ý, rằng đây không gọi là ‘Hội’, vì lập hội nó ‘phức tạp’ lắm…. Tôi biết vì sao như vậy?

Tôi mặc nhiên có mặt vì là người có tên trong danh sách giao ban ở cơ quan, bởi lẽ, nếu không phải đối tượng đó, chưa chắc tôi sẽ tham gia buổi họp. Tôi vốn thiếu lòng tin ở những hoạt động có tính hình thức… phong trào, mà tôi hay dùng hình ảnh điển hình về một hoạt động vô thưởng, vô phạt lúc còn bé là: Rước đèn ông sao… Tùng dinh dinh…

Trong buổi họp, người chủ trì là một cán bộ cấp Phòng (cơ quan tôi, cấp Phòng là to lắm rồi) đề nghị những người có mặt, tự giới thiệu về thành tích chiến đấu, về những năm tháng ở chiến trường, thông qua đó để mọi người có khái niệm trong việc lựa chọn vào Ban Lãnh đạo dự kiến cho cái tổ chức Cựu chiến binh, nếu được thành lập.

Không khí buổi họp thân mật, bình đẳng. Tôi bị ấn tượng với những câu chuyện của những người dự họp, khi các anh đã thuật lại những gian truân của cuộc đời người lính, đặc biệt là trường hợp anh Loan, một cựu lính bộ binh.

Anh Loan đã kể lại những ngày kinh hoàng, cùng những nỗi khổ, những cảnh tìm diệt lẫn nhau diễn ra từ cả hai phía kéo dài cả tháng trời dưới dòng kênh Vĩnh Tế. Khi tôi nghe đến cái địa danh Vĩnh Tế, tôi đã gai hết người. Tôi biết đó là dòng kênh mang đầy những giai thoại ghê sợ trong cuộc chiến Việt Nam. Dòng kênh là ranh giới của hai tỉnh Kiên Giang và An Giang, sát với Camphuchia.

Tan họp, cảm xúc thần phục của tôi dâng tràn cùng với một vài nỗi ân hận, vì trong công việc hàng ngày, khi tiếp xúc với một số anh có mặt trong buổi họp hôm đó, tôi đã từng coi thường họ, thậm chí có lúc tôi còn tru tréo vì chứng kiến đôi ba tác phong, cùng với một vài công việc do các anh đó đảm nhận, đã không hoàn thành như yêu cầu.

Nhưng từ buổi họp đó trở đi, khi có việc tiếp xúc với những con người ấy, tôi nhã nhặn hơn do trong lòng thấy thầm phục những sự chịu đựng mà các anh ấy đã trải qua trong quá khứ của cuộc chiến. Ở cơ quan, tôi bớt hẳn sự kiêu ngạo, nghêng ngang khi đứng trước những đồng nghiệp đã từng là lính chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Mắt tôi mở to hơn…

Trở về phòng làm việc, nhìn thấy anh Hóa ngồi một mình trước mấy thứ giấy tờ để trên mặt bàn, tôi te tái, đang sẵn cảm xúc và thái độ kính nể nội dung những câu chuyện vừa nghe tại buổi họp, tôi chân thành thuật lại với anh Hóa những điều mình vừa chứng kiến. Tôi muốn tỏ ra là kẻ ăn năn, ân hận do đã từng có lúc coi thường một vài người trong số các anh cùng dự họp với tôi.

Anh Hóa đứng phắt dậy, bằng một vẻ mặt căng thẳng, anh nói to như mắng tôi:

“Thằng Loan là cái đ.gì… Cả thằng Chú, thằng Sáng… Tôi lạ đ.gì chúng nó. Tôi cần đ.gì! Tôi còn cả vốc huân huy chương, chứng nhận này, chứng nhận nọ kia kìa… Tôi đ.muốn nói nhá…. Giấy tờ của tôi còn từ cái hồi in cờ hai màu ấy (cờ Mặt Trận DTGP miền Nam VN. T/g), chúng nó đã là cái đ.gì…”.

Tôi hoảng hốt, lùi lại. Tôi không tưởng tượng nổi điều gì đã làm anh Hóa bị kích động đến vậy chứ?! Mà nội dung câu chuyện tôi truyền đạt là thật mà. Tôi tin, vì khi các anh ấy kể lại, phiên hiệu của các đơn vị mà các anh ấy nhắc đến, được ghi trong lý lịch, trùng với kiến thức hiểu biết của tôi.

Bằng chất giọng của đàn em khi đứng trước đàn anh, tôi không phải chỉ là nói, đúng hơn, phải gọi là thưa:

“Anh Hóa ơi, sao bao lâu nay, tôi không bao giờ nghe thấy anh kể về những việc ấy? Thế những cái huân huy chương ấy đâu rồi? Nhất là các giấy chứng nhận kèm theo nữa, anh bỏ đi đâu?”.

Vẫn với tông giọng căng thẳng, anh Hóa nói tiếp:

“Bỏ đi đ. đâu, tôi vứt ở nhà chứ ở đâu? Tôi đ.muốn nói đến, vì đúng ngày 30.4.75, cả Đại đội tôi bị kỷ luật lúc trên đường tiến về phía Sài Gòn. Mà lỗi có phải của bọn tôi đâu, của thằng cha Chính ủy. Bọn tôi nhận lệnh một hướng, bố Chính ủy lệnh theo nội dung khác. Cùng với Đại đội Trưởng, chúng tôi đồng thanh phản đối, hắn bảo chúng tôi chống lệnh và liền đó là kỷ luật tất tật. Đảng viên hắn khai trừ, tôi mất Đảng là vì hắn đấy!”.

Tôi lặng người trước câu chuyện của anh Hóa. Trong đầu tôi quay cuồng, luống cuống, vì hóa ra bao lâu nay, tôi chỉ nhìn anh Hóa như một nhân viên làng nhàng. Tôi cũng bị cái bệnh man dại như bao kẻ khác, là tự phụ, cứ tưởng mình là lính Trường Sơn đã là ghê, cho mình có tý học là gớm (tôi là lính điện xe tăng và xe xích, sau này ra Bắc mới được học ĐH Ngoại ngữ).

Chưa kể đến việc, danh chính, anh Hóa là Phó của tôi trong biên chế ở cơ quan, mà với con mắt của những kẻ kiêu ngạo, người ta hay gọi là ‘cấp dưới’.

Tôi nhỏ nhẹ nói với anh Hóa bằng cả một tấm lòng của kẻ sám hối:

“Anh ơi, lúc nào anh cho tôi xem những cái huân huy chương của anh nhé!”.

Anh Hóa buông gọn lỏn một câu như ném một hòn đá xuống mặt hồ lặng sóng:

“Để làm đ.gì….?!”.

Sáng hôm sau, tôi đến cơ quan muộn hơn mọi người. Anh chị em trong phòng làm việc với tôi, chủ động tỏa đi các nơi theo tinh thần yêu cầu công việc. Trong phòng lại chỉ còn anh Hóa và tôi.

Anh Hóa tuyệt nhiên không có lời nào với tôi, anh chẳng gọi, cũng chẳng hỏi tôi điều gì. Hình như anh Hóa có ý đợi cho mọi người đi hết, bỗng anh đứng dậy tại bàn làm việc của mình, rút ngăn kéo ra, tay vừa kéo, miệng anh vừa nói:

“Này ông, ra đây mà xem….”

Anh dùng hai tay chụm vào nhau, hốt một lần trong ngăn kéo những vật kim loại được gói trong cái mùi xoa, và đổ lên mặt bàn. Tôi vội vàng, hứng thú nhẩy nhào đến chỗ anh. Anh cầm từng cái huy chương, huy hiệu chỉ dẫn để tôi biết, rằng nó thể hiện nội dung gì? Lý do gì mà anh có nó? Anh giải thích:

“Những cái huân, huy chương dành cho danh hiệu, đều có chứng nhận đấy. Tôi còn giữ cả đây”.

Anh giở tập giấy tờ đã ố vàng, nó mỏng tang với những chữ in mờ, hình thức trông hơi ngồ ngộ. Có lẽ trong hoàn cảnh ngày ấy, điều kiện kĩ thuật của các cơ sở in ấn trong rừng, cũng chỉ làm được đến thôi. Anh chỉ và chìa trước mặt tôi từng cái huy chương khớp với cái giấy chứng nhận nào?

Tôi đọc vội các dòng chữ ghi nội dung phong tặng đúng tên anh Hóa. Không hiểu vì sao, đúng cái lúc anh Hóa đang hào hứng dẫn giải, tôi thấy vụt tắt sự tò mò về những chuyện ngày xưa của anh Hóa. Đặc biệt, tôi tỏ ra ‘hãi’ khi anh Hóa cầm một tờ chứng nhận, ở trên có ảnh cờ hai màu xanh và đỏ, anh hỏi tôi:

“Ông còn nhớ lá cờ của Mặt Trận Giải phóng miền Nam VN chứ? Ông nhìn này, mẹ kiếp, tôi hai lần là dũng sĩ diệt…”.

Bỗng anh Hóa khoát tay và nói:

“Thôi, thôi… tôi sợ mỗi lần nhìn lại những cái chứng nhận này lắm!”.

Anh Hóa nhanh tay vơ tất cả để vào ngăn kéo, và đóng lại cùng với động tác khóa bằng chiếc chìa đặt sẵn trong ổ.

Tôi nói chân thành như một một đứa trẻ con:

“Anh ơi, có lẽ anh nên trình báo với bọn ở cơ quan mình, để bọn nó hiểu. Nếu không, ngay như tôi là người gần anh thế, mà mãi tới hôm nay mới biết. Trước đây, tôi cũng nghĩ đơn giản là anh cũng từng đi chiến trường, chứ có ngờ đâu anh là Dũng sĩ diệt này, diệt nọ, Trời ơi… Kinh hồn đấy!”.

Lúc này, anh Hóa đã hạ giọng, nói nhẹ nhàng như buông lời vào bóng tối:

“Chẳng để làm gì đâu ông ạ… Lý lịch, hồ sơ đảng viên tôi còn giữ cả đấy chứ! Năm ngoái, đơn vị bọn tôi có tổ chức gặp mặt, đấy, ở cái chỗ mà một lần tôi rủ ông đến uống bia đấy, đường Nguyễn Chí Thanh ấy…

Vui lắm ông ạ, cũng có mấy thằng giờ ăn nên làm ra, bọn nó cũng cướp được… đứng ra bao luôn. Hôm ấy, cái ‘bố’ Chính ủy mà tôi kể với ông ấy, cũng đến.‘Bố’ ấy cũng yếu rồi, nhưng đứng trước anh em,‘bố’ ấy đã xin lỗi về cái vụ 30/4/75. ‘Bố’ ấy thú nhận, khi hiểu ra mọi chuyện thì đã muộn mất rồi…”.

Nghe xong câu chuyện của anh Hóa, tôi bâng khuâng nhiều ngày sau. Tôi chọn những lúc thích hợp, giữa các anh chị em đồng nghiệp (khi không có mặt anh Hóa), tôi tóm tắt những hiểu biết mới của mình về anh Hóa, và lưu ý mọi người nên tôn trọng anh Hóa hơn, ‘nghe lời’ anh ấy khi anh ấy chỉ đạo các phần việc trong mảng công việc do anh Hóa chịu tránh nhiệm…. Và hãy thông cảm với việc anh ấy hay phải đi bệnh viện.

KẾT.

Anh Hóa mang trong người khá nhiều bệnh nan y, nghiêm trọng nhất là sỏi mật. Anh còn bị bệnh thận, dạ dày, gan… Nhưng xót xa và nhìn thấy ngay là căn bệnh mắt khô, vì vậy lúc nào trong túi anh cũng có lọ dung dịch nhân tạo thay tuyến lệ cho mắt. Anh Hóa chống chịu với nhiều lần phẫu thuật sỏi mật, sỏi thận.

Lần nào ở cơ quan có phân bổ chế độ trợ giúp những người khó khăn, chúng tôi cũng đều tiến cử anh. Tội nghiệp, lần nào nhiều lắm, cao nhất cũng chỉ một triệu đồng.

Một hôm, tôi đi từ ngoài về cơ quan, mở cửa phòng làm việc chỉ thấy một mình anh Hóa đang bò lê trên bàn vì sự đau đớn đang hành hạ anh. Tôi thấy mặt anh tái mét, mồ hồi lấm tấm… Tôi đề nghị anh nên về nhà nghỉ. Anh chẳng nói năng gì…

Mấy phút sau, cơn đau như có vẻ dịu bớt. Anh hơi nhổm người lên nói thì thào như tự vấn:

“Ông ơi, ông thấy tôi sống có đến nỗi nào đâu… Tôi cũng cố gắng làm sao sống cho tử tế, làm những điều tử tế… mà Ông Trời nỡ lòng nào lại hành hạ tôi đến thế này? Nhiều lúc tôi đau quá, đ.biết rồi đời mình sẽ thế nào…? … Ông ơi, hay là tại ngày xưa, tôi là dũng sĩ diệt…”.

Tôi cay đắng vì lời than của anh Hóa, tôi thương anh, tôi hiểu trong lòng anh trăn trở về những gì đã qua trong cuộc đời của người lính chiến. Tôi biết chắc chắn, ở đất nước này, không phải chỉ có anh Hóa bị dày vò, ám ảnh…

Thưa cô Sandy Hòa Đặng, Giám đốc điều hành Quỹ Giáo dục VN (VEF), tác giả bài báo “Ký ức John McCain” thân mến!

Cô phiền muộn và chua xót về cái quá khứ của chiến tranh Việt Nam, nhất là khi cô có cơ hội sống và làm việc với ‘phía bên kia’ trong lịch sử, điều đã đặt cô vào tâm trạng thổn thức và bị dằn vặt, cô bảo:

“…Tôi từng gặp nhiều người nói rằng, họ từng đánh trận ở Việt Nam và không hề muốn nhớ đến quá khứ đó. Tôi từng làm công tác xã hội trong một bệnh viện điều trị cho cựu chiến binh Mỹ ở Washington. Hầu hết họ bị ám ảnh bởi chiến tranh. Có người nói với tôi họ thường xuyên thấy những hình ảnh em bé bị thương, cảnh vật tang tóc hiện về. Rất nhiều người phải tìm đến rượu để quên đi”.

Thì ở ‘phía bên này’, những người như anh Hóa không ít. Người dân có thể thấy ít, vì hệ thống tuyên truyền của chúng ta đã chủ trương không nói đến. Trong khi, ‘phía bên kia’ họ coi đó là quyền con người, đã là quyền thì không được chà đạp và ngăn cản.

Cái đáng phải quan tâm lớn nhất của nhân loại, là hỡi những người nắm giữ quyền lực, bằng mọi giá, bằng trí tuệ và tính nhân bản của thằng người, đừng động viên chiến tranh, vì chiến tranh không có ai thua… và cũng chẳng có ai thắng.

Thắng như chúng ta, để rồi vẫn mong ‘các vị nên tiếp tục mở rộng đầu tư, cần phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa hai nước cho phù hợp với tiềm năng của hai quốc gia, với mối quan hệ tương đồng trong lịch sử…’.

Còn ‘thua’ như người Mỹ, nhưng người thua lại chính là kẻ đã nghĩ ra và đầu tư tài chính cho cái Tổ chức “Quỹ Giáo dục Việt Nam – VEF”. Như thế, có phải để họ bù đắp những mất mát của đối phương trong những năm tháng đối đầu chăng? Hay để họ giúp đối phương cần phải có học hành tử tế, vì có học sẽ biết suy tính gần xa để tránh việc suốt đời cứ lâm vào cảnh binh đao, khói lửa?!

Nói như nhà văn vĩ đại người Pháp thế kỷ 19 ghi trong từ điển danh ngôn, tác giả cuốn sách để đời “Những người khốn khổ” là Victor Hugo:

Hòa bình là đức hạnh của nhân loại. Chiến tranh là tội ác.

(Peace is the virtue of civilization. War is its crime).

 

Hà Nội, 1.9.2018 (Những ngày tang lễ John McCain)

 

NGUYỄN LÂN BÌNH

Ghi chú:

Tên các nhân vật đã được thay đổi.

Bài viết liên quan:

John McCain và duyên nợ với Việt Nam

Ký ức John McCain

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tìm kiếm

October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  
October 2026
M T W T F S S
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Social Network