Bài viết nhân ngày sinh Nguyễn Văn Vĩnh (15/6/1882 – 15/6/2018)
Thưa các quý vị và các bạn!
Mới chỉ cách đây 5 năm, cuốn sách đầu tiên nói về con người, sự nghiệp của dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh ra đời (2013), được lấy tên “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?”, đã đặt dư luận xã hội, những người biết và hiểu quá khứ lịch sử vào sự quan tâm nhất định đến đề tài này.
HỎI.
Chỉ hơn chục năm trước, trong đối thoại giữa cá nhân tôi với nhiều gương mặt ở những tầng lớp xã hội khác nhau, nhiều người đã không tin và ngờ vực, rằng nếu một người giỏi, xuất chúng và nhiều công lao trong việc xây dựng một nền văn hóa tiến bộ cho một dân tộc lạc hậu điển hình, lại không được ‘kỷ niệm’, không thấy được Nhà nước tôn vinh là vì sao?
Rồi, vì sao nhiều nhà khoa học, nhà chính trị có tiếng, có vai trò trong bộ máy cầm quyền, cùng các giáo sư có tên tuổi, khi tiếp cận với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh ở phạm vi cá nhân, luôn khẳng định không tiếc lời với sự cảm phục, kính nể những gì liên quan đến Nguyễn Văn Vĩnh, đến ý chí, tài năng, đức độ và những thành quả mà ông để lại. Nhưng cũng chính họ, trước diễn đàn xã hội, trước bộ máy cầm quyền, trước những người có trách nhiệm, họ lại tỏ ra ‘rụt rè’, thiếu can đảm đến mức ‘né tránh’ việc bộc lộ những quan điểm tích cực của mình, về sự vô giá của những dâng hiến mà Nguyễn Văn Vĩnh đã dành cho sự tiến bộ và phát triển văn hóa của dân tộc?
Vâng, không ít những người bạn, người quen, hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, văn hóa, khoa học xã hội, nhờ việc hiểu thêm, hiểu rõ Nguyễn Văn Vĩnh, đã mạnh mẽ, bền bỉ với lòng ngưỡng mộ, kiên nhẫn đặt vấn đề trước xã hội khi có thể, mong giúp xã hội và công luận cần nhìn nhận Nguyễn Văn Vĩnh thực chất là thế nào? Có đúng là một người đầy cá tính, trung thực và khảng khái trong các mối quan hệ lịch sử?
Nhưng sẽ thật không tế nhị để nêu ra đây, tên tuổi của không ít nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, danh sĩ, nhà chính trị, nhà văn, nhà báo, đã tỏ ra nhiệt tình mãnh liệt, khi tiếp cận với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh do cảm phục, trân trọng, và từng thề nguyền sẽ làm bằng mọi khả năng để chiêu tuyết cho Nguyễn Văn Vĩnh, dẹp bỏ những sự thị phi, vô căn cứ, đã làm phương hại đến danh dự của ông, gây hệ lụy đối với các hậu duệ của ông. Nhưng mọi việc mới dừng lại ở đâu đó…. Vậy điều gì đã đẩy họ vào chỗ không tiến xa hơn được trong việc xúc tiến, chia sẻ và đi đến cùng với sự thật, với công lý, với Tân Nam Tử?
ĐÁP *.
Có mấy ai nghĩ rằng, trớ trêu thay, khi người ta biết, hiểu quá rõ một vấn đề, một con người, thì thay bằng việc họ hài lòng, mãn nguyện, lại là sự thất vọng ngao ngán! Hình như, khi ta hiểu quá rõ, biết quá rõ điều gì đó, phát hiện ra nhiều cái bất thường, thậm chí cả sự giả dối của đối tượng mà ta từng qúi trọng…. và ta quyết định rời xa!
Còn với tôi, khi mon men tìm hiểu dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã xuất hiện chiều ngược lại. Ngày càng hiểu sâu, hiểu rõ, tôi càng chú tâm, càng muốn khám phá. Tôi liên tục bắt gặp những vừng sáng, những giá trị vĩnh hằng đầy tính nhân văn trong sự nghiệp văn hóa của ông, và nó biến thành lực hút, đẩy tôi say mê, mải miết đi trên con đường dài tìm kiếm sự thật, tìm kiếm những điều để hiểu đúng, vì sao ‘Họ’ ngại ông, cái gì đã làm họ ‘tránh’ ông? Và ‘Họ’ có thể ‘né’ ông đến khi nào?
Để thỏa mãn một câu hỏi lớn có tính bao quát, liên quan đến sự nghiệp của một con người có danh tiếng, là điều không bao giờ đáp ứng được, chừng nào công việc này còn bị tránh né, nhất là với trường hợp dịch giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh.
Tuy nhiên việc này không có nghĩa, là chúng ta sẽ không có hy vọng để hiểu về Nguyễn Văn Vĩnh một cách đầy đủ, cụ thể và chính xác. Nước chảy đá mòn, ai cũng rõ. Vị tướng quân đội, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 18 là Ulysses S. Grant (chân dung trên tờ tiền 50 USD) có một câu nói thật giản dị và dễ nhớ: “Không có gì khó quá đến mức không làm được, nếu biết chia nhỏ nó ra để thực hiện…”.
Thực chất, trước chủ đề Nguyễn Văn Vĩnh, nếu không chia nhỏ để tìm và để hiểu, theo tôi, khó có giải pháp nào khác. Song dù là ai, khi theo đuổi một công việc, dù có bao nhiêu phương thức, bao nhiêu biện pháp, mà thiếu một tấm lòng, một đức tin về chân lý và cơ duyên, thật khó để hy vọng đi xa trong một đề tài, chưa dám nói là để tới đích!
Trong quá trình tìm kiếm của một kẻ thiếu chuyên môn, không trình độ trước một đối tượng công việc cực kỳ đồ sộ và phong phú, thì thật hay khi cái thú vị dành cho kẻ thiếu trình độ, không chuyên môn trong công việc đó, là việc tìm thấy những góc khuất, nơi ẩn dấu rất nhiều những âm thanh ngọt ngào, những hương vị đậm màu lý trí, những thứ chỉ dành cho những kẻ say mê bằng niềm tin mãnh liệt.
SỰ THẬT.
Sau nhiều tháng năm , tôi tìm thấy ở Nguyễn Văn Vĩnh, không phải chỉ là một dịch giả (1899-1900), một nhà báo (1907), một nhà văn (1909), một nhà xuất bản (1917), nhà tư tưởng, nhà xã hội học (1926), nhà chính trị (1931)…. và hôm nay, qua tư liệu, tôi thấy ông còn là một nhà kiến trúc xây dựng theo nghĩa rộng.
Có điều khó chấp nhận đối với nhiều người, nhất là những ai hay sống bằng chủ nghĩa kinh nghiệm, bằng những giáo lý cứng nhắc của quá khứ như tinh thần câu tục ngữ ‘Một nghề thì sống, đống nghề thì chết’ của người xưa, có lẽ trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh là không phù hợp, vì ông đã theo đuổi quá nhiều nghề. Nếu cứ với cách tư duy của người xưa, ngày nay làm sao người ta tạo dựng được những tập đoàn, công ty uy lực, đa nghành, với các hoạt động đa dạng như Công ty công nghiệp Sony (Sony Corporation – Nhật Bản), tập đoàn đa nghành Samsung (Nam Triều Tiên), tập đoàn công nghiệp danh tiếng Siemens (CHLB Đức)….
Cái gì cũng có hai mặt, quan trọng là chúng ta có nhìn thấy cả hai mặt của vấn đề hay không?!
Công bằng để nói, Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn không định làm, hay phấn đấu để trở thành Nhà này, Nhà nọ như hậu thế đặt tên, dán nhãn. Nguyễn Văn Vĩnh được hậu thế phát hiện, chứng kiến, xác định, rồi đặt tên theo óc quan sát của họ, vậy thôi. Để rồi, đôi khi, chính hậu thế lại tranh luận, mổ xẻ, mỉa mai nhau về việc, tại sao lại gọi Nguyễn Văn Vĩnh lại là Nhà này, Nhà kia…? Tôi nghĩ, tại sao ư?
Tại sao giăng cao đến giời?!
Xâu chuỗi hệ thống những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm và làm được, trong sự nghiệp khai sáng nền văn hóa Việt Nam 30 năm đầu thế kỉ XX, thì tất cả những lĩnh vực mà Nguyễn Văn Vĩnh tham gia với tinh thần cố gắng bất tận, để đạt được những kết quả hiện hữu mà lịch sử đã chứng nhận, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất: Khai dân trí!
NHÀ GÌ ĐÂY?
Tôi tin, những ai quan tâm, kính trọng sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, đều phải ngạc nhiên đến mức thảng thốt khi được tiếp cận với hệ thống bài viết trong Niên Lịch Thông Thư từ những năm 20 ở thế kỷ trước.
Rồi gần chục năm sau đó, lo rằng người dân không để tâm đến những điều mình hướng dẫn trong việc xây cất nhà cửa, xắp đặt cuộc sống, một yêu cầu bức thiết gắn chặt với cuộc đời con người, Nguyễn Văn Vĩnh lại quyết định chuyển sang tiếng Pháp nội dung đó, để đăng nhiều kỳ trên tờ báo tiếng Pháp Nước Nam mới – L’Annam Nouveau, do lúc này, ông bị cấm viết bằng tiếng Việt.
Số báo 101, ngày 13/1/1932 đăng bài đầu tiên có nhan đề ‘Notre almanach 1932’ (Almanach niên lịch năm 1932 của chúng tôi). Tiếp theo, trên số 108 ra ngày 11/2/1932, ông đăng cụ thể một mục trong Niên lịch của mình, là ‘L’orientation des maisons d’après l’Almanach Franco-Annamite de 1932’ (Hướng nhà theo Almanach niên lịch Pháp-Việt năm 1932).
Toàn bộ tập bài viết Almanach – Niên lịch Thông thư của Nguyễn Văn Vĩnh, thực chất là một tài liệu hướng dẫn người dân các bước cần thiết cho việc tổ chức thi công xây dựng một ngôi nhà, cùng với cách bài trí, xắp đặt nội thất, sử dụng hệ thống điện nước ở các hạng mục khác nhau của một ngôi biệt thự. Ông mở đầu bằng khái niệm thế nào là nhà ta (Ba gian, hai trái của người Việt), và ông lưu ý:
“Có người nói rằng người nước nam ta nên làm nhà kiểu An-nam mà ở, không nên làm nhà kiểu tây có nhiều lẽ bất-tiện. Trước nữa nhà kiểu ta nó thì tiện cho cách ở luộm-thuộm của ta”.
Ngôi nhà truyền thống của người Việt
Đến khái niệm về nhà tây (của người châu Âu – Biệt thự), ông xác định:
“…ai cũng phải tính làm nhà đại-khoa, theo lối cổ thật là tốn tiền mới đẹp; mà cũng bấy nhiêu tiền làm cái nhà kiểu tây, nom có bề-thế lộng-lẫy…”.
Từ ý thức này, ông lưu ý những kẻ có tiền làm nhà nên lựa chọn mẫu hình nào cho phù hợp với thực cảnh của mình.
Khi đã có những điều kiện cơ bản, đầu tiên cần đặc biệt chú ý là thế đất, chọn hướng. Nguyễn Văn Vĩnh lưu ý:
“Hướng nhà có quan-hệ đến sức mạnh của người ở, vì nắng, gió và sáng, ba cái của trời cho đó, biết lợi-dụng thì tiện cho việc làm ăn trong nhà, không biết dùng thì khó chịu, khiến mình mẩy nhiều khi sinh bệnh”.
Nguyễn Văn Vĩnh xác định trước khi thi công một công trình, cần phải có bản vẽ kiến trúc, một điều mà vào thời đó, chưa có trong tiềm thức của người Việt Nam, và ông khẳng định:
“….còn nhiều người yên trí rằng họa kiểu (vẽ kiến trúc. B/t)) trước rồi mới làm vẫn là một việc xa-xỉ vô-ích….. Vậy thì ai làm nhà cũng nên họa lấy kiểu trước hoặc nhờ hoặc mướn người nhà-nghề họa kiểu cho”.
Ông nhấn mạnh việc cần phải có các bản vẽ liên quan đến kiểu dáng (kiến trúc), rồi cấu trúc mặt cắt đứng, mặt cắt ngang, móng nhà….:
“Một là kiểu nằm (plan) cứ theo chân tường mà vẽ, cho biết dài rộng.
Hai là kiểu đứng nhìn bề ngoài (élévatio),
Ba là kiểu pha dọc hai bề (coupe)…”.
Thật thú vị khi Nguyễn Văn Vĩnh nhắc đến những bài học mang tính kinh nghiệm của dân gian trong lĩnh vực xây dựng, để cùng hiểu, rằng bên cạnh những yêu cầu kĩ thuật hiện đại, còn có cả những nguyên tắc truyền thống, và ông dẫn câu ca dao mang tính quy phạm của nghề xây dựng “Thợ mộc về, thợ nề mới đến”.
Bàn đến việc làm một cái nhà mới, vấn đề nước sạch, một yêu cầu thiết yếu mà vào kỷ nguyên đó, người Việt Nam chưa cho rằng quan trọng. Nguyễn Văn Vĩnh đã tỏ ra thất vọng với cách nhận thức của người dân về khía cạnh này, ông than vãn:
“Cách dùng nước là một mối phân biệt trình-độ tấn-hóa (tiến hóa. B/t) của một dân-tộc. Dân ta có lẽ rất sành việc lợi-dụng thủy-thế sẵn để mà làm ruộng, để mà định chỗ ở. Nhưng đến việc dùng nước để mà ăn uống và tắm rửa thì hình như cẩu-thả lạ-lùng”.
Để khắc phục yếu kém này, Nguyễn Văn Vĩnh đã phải rà soát gần như toàn bộ những thói quen trong việc dùng nước sinh hoạt của người dân nước ta. Ông giải thích việc tìm nguồn nước sạch cho cuộc sống dân sinh, cần phải dựa theo những nguyên tắc nào? Cần biết những khái niệm về địa lý, thổ nhưỡng, môi trường khí hậu ở nước ta. Ông dẫn chứng nền khí hậu Việt Nam chịu ảnh hưởng từ vị trí địa lý ra sao? Thế nào là ‘ôn-đái’ (ôn đới) và thế nào là ‘nhiệt-đái’ (nhiệt đới)? Những điều mà theo ông, ảnh hưởng đến việc lựa chọn những vùng đất cư ngụ của con người. Việc chọn các vùng đất định cư của một cộng đồng người, đã tác động sâu sắc đến tâm tính và bản chất của họ ra sao?
Nguyễn Văn Vĩnh không dấu mong ước của mình về một cuộc cải cách đối với đồng bào của ông, ông không phải là người thiên về các nghành có liên quan đến khoa học tâm linh, phong thủy, kinh dịch, song ông là kẻ rất thận trọng với các nguyên tắc, quy luật tự nhiên, ông đề nghị:
“Chúng ta muốn tiến-hóa được như người Âu-châu, thì từ việc dọn lấy nơi ở, cũng phải nghĩ ra những cách đoạt quyền tạo-hóa, ở trong sự san-sẻ đất nước. Người nước ta vì tạo-hóa cũng nhiều, cho nên cứ thừa thế tự-nhiên, lập dương-cơ cho đến âm-cơ, cũng là cần biết thủy-thế vậy”.
Sau khi trình bày hàng loạt những yêu cầu quan trọng đối với người có ý định sẽ xây dựng ngôi một nhà mới, Nguyễn Văn Vĩnh lưu ý các phần việc quan trọng với chủ nhà. Bước đầu là việc chọn thợ, một lĩnh vực tế nhị, và ông nêu:
“Ví bằng mình không sành nghề, chưa từng trải những việc nên trước nên sau, chưa biết hết những ngón gian dối và làm hại của kẻ thợ-thuyền, thì nên giao cho một người đứng khoán, đã có tiếng thật-thà cẩn thận, hoặc phải khoán với thợ, rồi mượn người tin-cẩn của mình đốc-suất”.
Nguyễn Văn Vĩnh yêu cầu chủ nhà cần phải làm khái toán, dự toán, không thể được đến đâu hay đến đó theo phong cách của người nông dân, vốn luôn tồn tại với những thói quen tùy tiện, thường không có khái niệm về dự toán, hoạch toán, nên ông nhắc nhở:
“Nếu chủ làm nhà mà sành, thì có thể theo các bản kiểu mà tính công lại từng khoản việc, mỗi khoản tổng-cộng thành bao nhiêu thước. Đó là cái sổ kê trước các công việc, tiếng tây gọi là avantmétré, kê giá nào từng khoản rồi nhân ra số thước, cộng cả lại, thì nó thành ra cái sổ tổng-kê và hỗ-giá (détail estimatif)” .
Để hỗ trợ cho người chủ làm nhà mới có kiến thức, có cơ sở tính toán tối thiểu về các đơn giá trong hoạt động xây dựng, Nguyễn Văn Vĩnh đã lấy biểu giá do Sở Lục lộ (Xây dụng, Giao thông. B/t) quy định giá định mức cho một số hạng mục công việc. Trích đoạn:
CÔNG VIỆC THỢ NỀ
Đào móng tường, mỗi thước khối là……………… 0 $ 10.
Đóng cọc tre dài 1m, mỗi trăm cọc là ……………. 0, 60.
Đổ bê-toong cả đập gạch, cứ đổ dày được 0m20 lại phải dầm, mỗi thước khối là …0,60.
Xây tường từng dưới, mỗi thước khối là …………. 0, 90.
Xây tường từng trên, mỗi thước khối là ………….. 1, 10.
……………………………………………………..
Nguyễn Văn Vĩnh còn lưu ý, rằng cái giá thực hiện mọi việc khi ký kết đôi bên A và B, còn có thể thỏa thuận:
“Nhà tư-gia mà gọi thợ hoặc thầu-khoán đến mà-cả, thì cũng phải bắt khai giá như thế…”
Rồi đến cách tính toán dự chi, kinh nghiệm tìm thợ, chọn thợ, bản chất, tâm tính người thợ có nguồn gốc là nông dân nó có thể có ảnh hưởng tiêu cực ra sao đến quá trình thi công, và ảnh hưởng này sẽ kéo dài thời gian xây dựng, gây tốn kém, lãng phí tiền của của gia chủ.
Ông còn nhắc nhở công việc mua sắm vật liệu, trông coi công trình, bố trí nội thất cho từng hạng mục phù hợp với yêu cầu sử dụng và vị trí xã hội của gia chủ….
THUẬN TIỆN, VĂN MINH của VIỆC BÀI TRÍ MỘT CĂN NHÀ
Trong các phân tích tôi từng nêu ở các bài viết về mục đích lý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, có một thực tế, là không khi nào thấy vắng cái ý thức khai dân trí của ông thông qua con chữ. Đây là bản tính đặc trưng trong tiềm thức của Nguyễn Văn Vĩnh, bởi thế mà mai hậu đã gọi ông là Nhà Ngôn ngữ, nhất là khi ông viết những nội dung này, chữ Quốc ngữ còn chưa chính thức được dùng làm văn tự Quốc gia.
Những ngôi biệt thự kiểu Pháp.
Để viện dẫn có cơ sở về khái niệm thế nào là cuộc sống tiện ích, một từ mà vào những năm tháng đó, từ điển tiếng Việt của các nhà soạn thảo còn chưa có, và bản thân Nguyễn Văn Vĩnh cũng không dấu được vẻ lúng túng khi giảng giải, song ông vẫn cắt nghĩa một cách chủ quan khi vào đầu của mục SỰ TIỆN LỢI như sau:
“Tiếng tây gọi là confort.
Confort là thế nào? Ta không có tiếng riêng đồng-nghĩa, đành phải tùy-nghi mà dịch ba bốn cách. Khi gọi là thảnh-thơi, khi gọi là dễ chịu, khi gọi là thuận-tiện, nhẹ mình cũng là nó cả.
Confort vốn là tiếng Pháp, người nước Anh mượn dùng, sau người Pháp lại mượn lại của người Anh”.
Chưa đủ, thường khi cắt nghĩa một điều gì, chữ gì, ông luôn tìm cách nhìn sang các chi tiết liên quan, nhằm lý giải giúp người đọc hiểu cụ thể tận gốc, hình tượng của từ ngữ gắn liền với sự việc (lĩnh vực này, Nguyễn Văn Vĩnh đã rất thành công khi dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp). Nguyễn Văn Vĩnh đã nhiều lần nhắc các đồng nghiệp của mình, hãy có trách nhiệm trong việc làm phong phú, làm giàu hóa tiếng Việt, để ngày càng có khả năng diễn đạt được mọi yêu cầu của cuộc sống tinh thần. Ông ví dụ, một người được sống trong một ngôi nhà xây dựng theo kiểu Âu châu, để minh họa cho một từ ngữ ngoại lai vốn người Việt lúc đó chưa có khái niệm:
“Ông chủ nhà giữ ở lại làm khách ăn ngủ, có phòng riêng cho mình, vào trong nhà thấy y như ở nhà mình vậy, đi đứng nằm ngồi, muốn sáng vừa, sáng lắm, thế nào tùy ý, chỉ giơ tay quay mấy cái hãm (công tắc. B/t). Trong nhà tịch-mịch, không nghe những tiếng ầm-ỹ ngoài đường.
Đêm hôm muốn dậy tiểu, đại, rửa, tắm, lau, chùi, cái gì cũng thấy sẵn cả ở phòng con (toilets. B/t) bên cạnh.
Sáng sớm dậy hoặc muốn cháo, cơm, bánh ngọt, nước trà, cà-phê lót dạ, bảo một tiếng tự khắc có người đem vào tận nơi. Tắm rửa xong, chải đầu, cọ răng, mặc quần, mặc áo, đi giầy, việc gì cũng thấy sẵn. Tuy là khách mà hóa ra ông chủ cho đến khi đã chỉnh y-quan ra khỏi cửa phòng.
Muốn làm việc chăng? Đọc sách, viết thư từ, đã có chỗ riêng rất tiện cho những việc ấy.
Ra về phải khen cái nhà ấy là confortable. Có kẻ dịch là lịch-sự, một tiếng dịch tỏ ra rằng chúng mình là một dân tộc khốn-đốn! Khi người ta cho là một cái rất dị-thường (giản dị, bình thường. B/t) mình phải gọi là lịch-sự.
Cho nên cái confortable cũng có tây cũng có ta. Hơi khác nhau một chút”.
Trong Niên Lịch Thông thư của Nguyễn Văn Vĩnh, ông không chỉ giúp những người có chủ trương làm nhà quan tâm đến sự khác biệt trong kiến trúc, bố cục, nội thất giữa nhà kiểu của ta (truyền thống) và ngôi nhà theo kiểu Âu châu (biệt thự), ông cho rằng, hai sự khác biệt đó đã tạo ra ý thức, phong cách, thói quen, lối sống được gọi là văn hóa của con người, và nó khác nhau như thế nào?!
Sự chu đáo trong nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh, đôi khi đã đặt ông vào vị trí của kẻ ‘sính tây’ dưới con mắt định kiến của những đối tượng bảo thủ, đại diện của lối sống ‘áo the, khăn xếp’, luôn chống lại những tư tưởng đổi mới, cải cách.
Nguyễn Văn Vĩnh không gay gắt, nhưng ông dứt khoát đòi hỏi mọi người hãy hướng đến sự tiến bộ, hướng đến lối sống văn minh, tạo cuộc sống tâm lý ổn định, cơ sở cho sự sáng tạo và phát triển. Với nhận thức như vậy, ông đã đề nghị người chủ nhà có nhà mới xây theo kiểu Tây, cần chú ý:
“Đã gọi tiếp quí-khách, khi là ông Tây, khi lại là ông Tàu hay ông ta. Mỗi dân-tộc có những thói-quen nhiều khi khác đứt với dân-tộc khác. Quí bạn ai lại dám kêu: khách đừng nhổ bậy! Huống chi trong tục ta hãy còn có miếng trầu là đầu câu chuyện. Ông Tây không muốn nhìn thì mặc ông Tây, đã có nhà phải phòng (phòng xa. B/t) được tiếp đủ các thứ khách. Còn cái nạn khách quê-mùa nhổ toẹt cốt-trầu xuống gạch hoa, hoặc ván-sàn đánh bóng, hay là đệm Thổ-nhĩ-kì, mã-nhục, mền chiên, hoặc chiếu- xoăn phủ Kiến, thôi cũng đành chờ sự giáo-dục quốc-dân được phổ-cập khắp nơi”.
Song, đó là nói đi, khi nói lại, Nguyễn Văn Vĩnh cũng lưu ý như để an ủi những người có hoàn cảnh eo hẹp, cuộc sống vất vả, rằng dù khó khăn, cơ cực, con người ta vẫn có thể thu xếp để có được sự hạnh phúc, chứ không nhất thiết phải xây nhà Tây mới là sự trường tồn, và ông bảo:
“Người nước Nam đã đông con, lại còn lấy sự quây-quần với nhau tam tứ thế (ba, bốn thế hệ. B/t) làm cảnh thuận-hòa sung-sướng. Một nhà gọi là nhà, có phúc, đếm nhân-số phải có hàng vài chục người. Giàu-có thì còn gia-nhân thủ-hạ, mà nhà tầm thường thì con hầu cha, vợ hầu chồng, em đỡ anh đỡ chị, trong nhà chia việc nhau ra. Vậy thời cái nhà kiểu tây là một việc xa-hoa nhứt thời, không phải là kế trường cửu. Nếu ta muốn duy trì phong-hóa, thì phải giữ lấy nền-nếp ăn ở tiết-kiệm”.
Nguyễn Văn Vĩnh phản bác lối sống học đòi, trưởng giả, phù phiếm của bất kì ai, ông luôn ghép cái lối sống ấy vào cái tội thiếu văn hóa, phản tác dụng. Nguyễn Văn Vĩnh kết án những kẻ hợm đời, mua sắm đồ đạc xa hoa cho ngôi nhà mà không cần biết mảy may, rằng việc làm của mình là một sự lố bịch. Hình như ông đã muốn người dân phải có cả kiến thức lịch sử khi sử dụng những đồ cổ, mà theo ông, nhất thiết người sở hữu phải biết được xuất sứ, ý nghĩa, giá trị của những vật dụng ấy. Đây là điều quá khó đối với thiên hạ. Ông viết:
“Có người thiên về nghĩa tồn-cổ quá, trong nhà nhứt giai là dùng những đồ đạc đóng theo kiểu xưa, nó có bề cũ-kĩ, tự-hồ cũng ảnh hưởng cả đến việc duy-trì quốc-túy, nhưng mà hễ đã đẹp thì mất nhiều công, phí nhiều tài-liệu (vật liệu. B/t), mà lại không tiện sự nằm ngồi. Nhà chật-chội thì bày nó lủng-củng.
Phàm người có cái lòng hiếu-mỹ thì ai là chả thích có đồ cổ trong nhà, nhiều khi là kỉ-niệm của ông cha để lại, gia bảo của những nhà nền-nếp. Giữ đồ cổ trong nhà là hay, mà mua đồ thật cổ về mà chơi gọi là ta cũng biết trọng những mỹ-công của tiền-nhân, thì thật là một tấm-lòng ái-cổ đáng trọng. Nhưng đời bây giờ mà cậy nhiều tiền đi đóng đồ giả cổ, thì thật là làm một việc ngu-xuẩn vậy”.
Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng, việc treo ảnh chân dung người chủ nhà ở nơi tiếp khách, với những bộ trang phục có tính chất lễ nghi, với chi chít những phẩm hàm trên ngực áo là một sự thiếu tế nhị đối với khách. Ông xác định cách thức trưng bày tranh ảnh, đồ mỹ nghệ và vật quý nơi tiếp khách cần phải phù hợp với nhân thân và gia cảnh của bản thân mình, và phải luôn khiêm nhường. Ông phê phán:
“Không có gì quê cho bằng treo mấy bức ảnh truyền thần của ông chủ nhà, bà chủ nhà, nào những phẩm-phục, với huy-chương để khoe sang với khách”.
Thật ngạc nhiên vì Nguyễn Văn Vĩnh đã quá chi tiết trong quan sát, và không phải chỉ lo đến tính thẩm mỹ của đồ dùng nội thất. Ông còn có ý thức vệ sinh khoa học trong việc sử dụng đồ đạc, làm sao để đồ dùng thực sự trở nên hữu dụng và hợp lý, ông chỉ dẫn:
“Người thợ khéo đóng ra cái ghế tức là phải nhớ từng nấy điều, cho nên làm cái ghế tròn hay vuông tùy cách ngồi, mặt ghế thẳng quá thì đau hai bên xương môn, mà lũm quá thì ngồi thấy nóng. Ghế phải bốn chân, năm thì thừa mà ba thì thiếu, không đủ vững. Chân cao hay thấp tùy là để ngồi làm, ngồi ăn, ngồi nói chuyện hay là ngồi nghỉ. Ta ngồi cái ghế thấp ruỗi được hai cẳng ra một chút thấy nó dễ-chịu, nhưng mà không được nghiêm. Muốn ngồi nghiêm mà lại dễ-chịu, chân ghế vừa, phải cao từ 0m40 cho đến 0m50 là hạn”.
Nguyễn Văn Vĩnh chi tiết đến mức lạ lùng khi hướng dẫn mọi người, nếu có tiền làm nhà biệt thự kiểu Tây, thì cách bài trí, sắp đặt đồ dùng, thiết bị, không phải chỉ ở phòng khách, mà cả phòng làm việc, phòng ăn, nhà vệ sinh, phòng ngủ…. nên thế nào để được gọi là văn minh, không kệch cỡm, không hại đến sức khỏe.
Có nhiều điều để dẫn chứng về khía cạnh này trong hệ bài viết Almanach – Niên lịch Thông thư của Nguyễn Văn Vĩnh, có rất nhiều chi tiết đáng suy ngẫm, nhưng có một nhắc nhở không thể không suy nghĩ, khi chúng ta đọc đến việc ông lưu ý cách bố trí ánh sáng trong phòng ngủ, không phải chỉ với người lớn, mà với cả trẻ em, ông viết:
“Chỗ nào không có điện, thì buồng ngủ không nên chong đèn, vì đèn dầu, đèn đất, đèn đốt rượu, thắp để trong buồng lâu nó xông hơi vừa hôi vừa độc, lỡ tay đánh đổ vỡ thì có thể cháy nhà. Vả khi tắt nó đi lại có khói ra khó ngửi….
Trong khi ngủ thì nên tắt hết đèn để thật tối đen, thì mắt người cũng được nghỉ. Con trẻ nên để cho ngủ trong tối quen, nó không nhát”.
GIẢI MÃ.
Nhìn lại những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm trong công cuộc khai sáng nền văn hóa, nâng cao dân trí vào những thập kỉ đầu của thế kỉ 20 ở Việt Nam, chỉ có những cái đầu bần tiện, mới không chấp nhận sự thật rõ như ban ngày, về một tấm lòng, một khuynh hướng tiến bộ đã chi phối những việc làm của Nguyễn Văn Vĩnh, hòng thâu thái (lời Nguyễn Văn Vĩnh) lấy những phát minh của nhân loại, cải tạo cái cuộc sống lầm than theo tư tưởng: Chúng ta khổ không phải vì ngu dốt, mà vì chúng ta đã không được học hành (Nguyễn Văn Vĩnh phát biểu ở Hội quán Trí Tri 1907).
Có thể, dưới nhãn quan của những người theo tư tưởng của cách mạng bạo lực, Nguyễn Văn Vĩnh đã sai! Vì theo họ, trong lúc họ dồn sức để lật đổ một chế độ cầm quyền nhằm thay đổi cuộc đời bằng đấu tranh vũ trang, Nguyễn Văn Vĩnh lại lao vào cuộc cách mạng xã hội bằng việc nâng cao dân trí, phát triển tri thức, văn hóa, và được gán nhãn hiệu Tiểu Tư sản, một thuật ngữ chính trị hình như chỉ có ở Việt Nam XHCN.
Sự khác biệt về tư duy chiến lược cách mạng như đã đặt vấn đề ở trên, nên ‘Họ’ đã không muốn nhìn nhận Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà yêu nước theo cách của họ!
KẾT.
Chúng tôi mong muốn sẽ giới thiệu được nhiều, thật nhiều những suy nghĩ, cách tư duy và cách làm của Nguyễn Văn Vĩnh trong mọi lĩnh vực với các độc giả, các quý vị và các bạn. Song đáng tiếc, vì năng lực ít ỏi, nên xin được dừng bài giới thiệu tập tư liệu gồm hệ thống các bài viết trong Almanach – Niên lịch Thông thư của Nguyễn Văn Vĩnh tại đây.
Việc nhìn nhận Nguyễn Văn Vĩnh là Nhà gì… có lẽ đã không còn quan trọng. Nhưng dù đặt ông là Nhà gì, ông vẫn là một người có công hiếm thấy trong lịch sử phát triển nền văn hóa chữ Quốc ngữ và văn minh Việt Nam ở thế kỷ 20.
Trân trọng!
NGUYỄN LÂN BÌNH.
* Lời đáp nêu trong bài viết này mới chỉ có giá trị nội dung 50%!
Ghi chú:
Trong trường hợp chúng tôi in lại được Almanach – Niên lịch Thông thư, phần phụ lục, chúng tôi sẽ cho in cùng bài viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên báo L’Annam Nouveau – Nước Nam mới, cũng có nội dung gắn liền với công việc hướng dẫn các hoạt động xây dựng. Đầu đề bài báo là “Bâtir son tombeau – Việc xây dựng lăng mộ”.




One Response
Cụ vô cùng tỉ mỉ, công phu lên tiếng để nâng cao sự văn minh cho xứ sỏ này trong nhung năm đầu thế kỷ XX.
Rất trân trong những khảo cứu kỹ luong và tâm sự của anh NLB!
VG