Lời dẫn
Trong nhiều tháng qua, ở Việt Nam đắm chìm trong một sự ồn ào cực kỳ vô lý ở khắp các các cơ quan chức năng với hệ thống truyền thông, đó là sự tranh cãi về việc nền giáo dục có cần tiếp tục coi lịch sử là một môn học hay không?!
Thật khôi hài với nhận xét chủ quan của chúng tôi, có đến 80% người dân không có thái độ bận lòng đến đề tài nghiêm túc này. Vì sao như vậy? Theo chúng tôi, đó cũng chính là câu trả lời thỏa đáng của dư luận xã hội trước một vấn đề thực sự có tính sống còn với một dân tộc, nhưng đa số dân chúng tuyệt nhiên không có bất kỳ một sự phản ứng nào. Có chăng, chỉ là sự ồn ào diễn ra với các giáo sư, các vị chức sắc liên quan đến đề tài, còn người dân, hình như họ coi đây là câu chuyện như hàng ngàn, hàng vạn câu chuyện phiếm của xã hội chỉ dành cho chính những vị lãnh đạo nào thích nêu lên và tự nội bộ họ lại “dàn xếp” như hoạt động của thời tiết vậy thôi. Cũng có thể, dân chúng đã quen với tiềm thức: “Đã có Nhà nước lo!”.
Điều này cho thấy, nếu chúng ta có một nền giáo dục vì sự phát triển trí tuệ toàn dân, nếu có một cuộc sống thực sự bình đẳng trong việc bảo vệ sự thật, sẽ không bao giờ sảy ra một cuộc tranh cãi lạ lùng như nói ở trên.
Nền giáo dục chân chính, bao giờ cũng hướng mỗi công dân trong một xã hội đến việc trở thành con người sống có đạo lý, có nhân cách, coi giá trị thứ nhất trong cuộc đời phải là nhân phẩm, là danh dự chứ không phải là danh tiếng và lợi lộc. Một dân tộc chỉ có thể trở nên mạnh mẽ và tiến bộ, khi có những con người mang trong mình niềm tự hào chính đáng về nguồn gốc, về tổ tiên, về những thăng trầm tốt, xấu có thật của cha ông họ. và đó là vai trò không phải bàn cãi của những tri thức lịch sử do chính môn sử học mang lại.
Vậy mà hôm nay, họ coi vấn đề này là một sự mặc cả giữa các cơ quan quyền lực của đất nước, giữa một vài cá nhân ở vị trí chiếm ưu thế khi sử dụng “chân lý” sức mạnh ở trong tay kẻ nắm chính quyền và chính nghĩa nằm trong tay kẻ có sức mạnh. Thật không thể không thấy cay đắng về điều vô lý này!
Có rất nhiều dẫn chứng để chứng minh quan điểm của mình, chúng tôi chỉ xin đơn cử một khía cạnh rất dễ để bất kỳ ai thấy ngờ vực ý kiến vừa nêu có thể xác minh được ngay, đó là việc chỉ cần nhìn vào hàng loạt các đề bài báo được đăng tải trên các cơ quan thông tin của một hệ thống chính trị, sẽ đủ để thấy sự tan vỡ một nền tảng đạo đức xã hội, nguyên nhân của việc thiếu lòng tin vào cuộc sống hiện tại, hệ quả của việc không có lòng liêm sỉ do không biết mình có một quá khứ xót xa đến mức nào để qua đó mà vì kính trọng tiền nhân, đừng làm những điều dối trá, giả vờ giằng co, tranh luận xem có cần dạy sử hay không cho các hậu duệ của mình?!
Mời các bạn đọc một số đề bài báo đã đăng trong thời gian gần đây để hình dung được những lập luận đơn giản của chúng tôi, mà không nhất thiết phải bỏ nhiều thời gian nghiên cứu:
70 năm xây dựng nhà nước Việt Nam, xây dựng lý tưởng, 40 năm kết thúc chiến tranh, kiến thiết đất nước trong hòa bình, vậy mà đến giờ này người ta phải đặt câu hỏi:
– Nay, hạnh phúc của dân tộc Việt nam là gì (Vietnamnet.vn 22.8.15) hoặc Dân chưa yêu, làm sao có thịnh vượng (Vietnamnet.vn 06.4.15)
Không nói đến những ai đó bị kết án là những kẻ vô cảm, vậy những người được cho là cảm nhận được nghĩ gì khi: Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển! (Infonet.vn 18.8.15) hoặc: Hùng hậu tiến sĩ, thế giới vẫn không rõ VN đang làm gì (Vietnamnet.vn 22.7.15).
Có chua chát không? Có cay đắng không khi chúng ta thấy: Nhiều gia đình Việt chỉ còn cái vỏ (Vietnamnet.vn 26.6.15) hoặc Muốn mặc quần, hãy… làm đơn (Vietnamnet 22.7.15).
Làm sao, hỡi ai đó không thấy động lòng nếu đọc: Đừng dạy học sinh “nói dối” nữa (Tuoitre.vn 28.7.15) hoặc Có những “giá trị Người” đã rời bỏ thế gian (Vietnamnet.vn 4.7.15).
Để rồi: Bệnh vô cảm, công chức cắp ô và giấc mơ “hóa rồng” (Vietnamnet.vn 22.7.15) hoặc Tiền dân cao và trí dân… thấp (Vietnamnet.vn 13.6.15).
Thế rồi Sách có nội dung nhảm nhí, thô tục: “Mất dạy chứ giáo dục cái gì” (Giaoduc.net 30.8.15) hoặc Đại biểu gọi thay đổi về môn Lịch sử là “sự xáo trộn tận tâm can” (Vnexpress.net 16.11.15)
Và cuối cùng, cho đến những ngày gần nhất, chúng ta đành hy vọng: Chủ tịch nước: Lịch sử là cội nguồn của sức sống, là sự trường tồn của dân tộc (Giaoduc.net 30.11.15).
***
Dù chúng ta có cố tình biện lý kiểu gì về những yếu kém ngày hôm nay của đất nước, dù chúng ta có đổ lỗi cho bất kỳ ai về những sự lãng phí mọi mặt suốt một thời gian dài, cũng cần biết và nhớ một thực tế rằng, từ 100 năm trước, các bậc tiền nhân của chúng ta đã lo lắng cho những nỗi bất hạnh này đến mức nào!
Xin được gửi đến các bạn độc giả một bài viết đã quá trăm tuổi, đăng trên tờ báo hoàn toàn in bằng tiếng mẹ đẻ, báo tiếng Việt đầu tiên ở bắc kỳ do nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút, tờ Đông Dương tạp chí.
BBT Tannamtu.com
Tòa nhà trụ sở của Đại học Đông Dương tại 19 phố Lê Thánh Tông, Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được thành lập từ năm 1906 nay là Đại học Học Quốc gia Hà Nội.
(nguồn: www.vnu.edu.vn)
KỸ NGHỆ Ở BẮC – KỲ
(Đông Dương Tạp Chí số 41 ra ngày 26,2.1914).
Ở Bắc – kỳ ta điền phì địa ốc, cây cối tốt tươi, giồng giọt gì cũng được, dưới đất lại có lắm thứ mỏ, thế là giời cho một cái lợi tự nhiên đó. Mà xét ra dân thì nghèo, của thì ít, là cớ sao vậy? Đó chỉ vì dân xứ Bắc – kỳ ta kém đường kỹ nghệ mà thôi.
Nguyên dân xứ ta xưa nay chỉ biết một nghề cầy cấy làm ruộng, con như công nghệ thì ít người mộ đến. Tuy cũng có năm ba nghề riêng, nhưng mà kỹ nghệ có ra gì đâu, kể ra thì chưa được một nghề nào gọi là tinh xảo được.
Công nghệ của nước ta kém như thế cũng bởi nhiều cớ nhiều lẽ.
Một là vì người nước ta ít người trọng công nghệ. Những người có học thức cũng là nhà giầu có không mấy người chịu khó mà chuyên cần lấy một nghề gì, thường chỉ mơ tưởng ước ao về đường công danh chức phận, để lấy tiếng với đồng – bang. Không biết rằng việc kỹ nghệ là một việc rất quan – hệ ở trong xã – hội, và cũng là một cái danh giá to cho mình. Vì việc làm giầu cho nước, phải có nhiều người mới xong. Có người làm việc quan để khai hóa cho dân, cũng phải có người làm thợ để làm ra tiền mà tiêu dùng trong nước.
Lại có lẽ nữa là vì những người làm thợ làm nghề, phần nhiều là người ít học. Người ta hay nói rằng: “ Chẳng cứ người thông minh mới làm được nghề khéo”, nói như thế là không phải lẽ. Vì những người ít học thức mà làm thợ, thì chỉ biết bắt chước nhau mà thôi, thấy ai làm cách thức thế nào thì lại cứ theo như thế, chớ trong bụng không biết suy xét mà làm cho thêm khôn thêm khéo ra được mà cũng không biết nghĩ mà chế ra cái gì khác nữa.
Lại một cớ nữa là vì máy móc không có, xưa nay ai làm nghề gì chỉ dùng tay làm ra mà thôi. Mà cách làm lại rất đơn sơ, rất thô lược, miễn là làm cho mau cho chóng, cho đủ dùng trong xứ mình. Chớ không biết nghĩ cách làm cho chắc chắn hoa mỹ, để cho thông dụng ra đến ngoài. Té ra đến thời buổi này, chẳng những là nước mình chẳng có đồ gì bán cho ai, mà lại phải mua của người ta mà dùng, trách nào mà tiền của nước mình chẳng hao hụt.
Ta nên phải biết rằng mỗi đời khai hóa một rộng ra bao nhiêu, thì cách ăn ở lại phải tốn ra bấy nhiêu, mà đồ dùng cũng phải mỗi ngày sinh thêm tinh sảo mãi. Thợ của ta thường tuân theo lối cổ hoài, chỉ biết xưa nay trong xứ mình dùng đồ gì, thì bây giờ lại cứ kiểu ấy mà chế, chớ không chịu chế ra đồ gì mới lạ. Nhiều đồ cách thức còn y nguyên như đồ 100 năm về trước, chớ không gia giảm được chút nào.
Lại còn một tệ nữa là chẳng những không làm được khéo hơn trước, mà lại làm kém đi.
Vì các lẽ đó, cho nên công nghệ An – nam ta không thịnh vượng lên được.
Từ khi nhà – nước Đại – pháp sang bảo – hộ nước ta đến giờ, thì vẫn có lòng mở mang việc thương mại kỹ nghệ cho dân ta. Vậy nên nhà – nước cũng đã lập ra tràng bách – công để cho người An –nam ta học. Ở đây thì dạy làm nghề bằng tay và cũng có dạy nghề máy nữa. Ấy thực là việc hay lắm. Xem như người An – nam ta bây giờ đã nhiều người làm được nghề này nghề khác, như nghề sơn nghề vẽ nghề làm pháo, làm hương, làm đồ gỗ, đồ sắt, đồ rút mây v…v…cũng đã lắm đồ bán được tiền.
Vả lại nhà – nước muốn cho ta nức lòng đường công nghệ, cho nên lại mở ra cuộc đấu – xảo mà ai làm được đồ gì khéo thì có thưởng cả, thế là có ý khuyên cho dân ta chăm việc kỹ – nghệ biết là dường nào.
Hiện nay công – nghệ cũng đã tiến bộ, xem như khi xưa thì ta còn biết cái máy là cái gì, mà nay ở các nơi đã có nhiều nơi mở mang sở này sở nọ: ở Hà – nội thì có sở làm giêm, có nhà máy sợi, có sở làm điện khí, có sở làm nước đá, ở Hải – phòng thì có sở làm sà – phòng v…v… Như thế thì biết mỗi đời mỗi khác, mà việc ăn ở tiêu dùng lại thêm nhiều và tốn hơn nữa. Bây giờ những nhà giầu có, phần nhiều cũng do ở kỹ – nghệ mà ra.
Vậy thì việc làm nghề, chúng ta cũng nên quý như việc làm quan, vì làm được một nghề khéo, chắc bởi đó mà làm một phần danh vọng lớn ở trong xã – hội. Mà danh vọng ấy, cũng chẳng kém gì danh vọng của người văn – chương.
Khi nào đã biết trọng đường công – nghệ lại phải tìm vốn mới được, việc ấy mới lại cần hơn nữa. Vì không có vốn, thì dầu có công – nghệ cũng chẳng làm nên được việc gì. Dân ta phần nhiều là dân nghèo, cho nên xưa nay khó nghĩ về việc ấy lắm. Chỉ có một cách này là mới kiếm ra được vốn, mà cách này thì dân nước nào cũng phải dùng mới được, là cách hợp cổ, mỗi người góp vào một ít thì thành ra được một vốn to ngay. Đã chung lưng góp sức cùng nhau, thì nghề gì mà chẳng làm nổi. Ví như một cây gỗ lớn một người vần nó thì không nổi, chớ như nhiều người mà mỗi người đỡ vào một tay thì nặng thế nào mà chẳng vần đi được. Kìa như các hiệu buôn bán lớn ở Hà – nội như là Godar, cũng là có nhiều người góp vốn, chớ phải một mình ai mà làm được đâu.
Có người nói rằng; góp vốn vẫn là hay, nhưng khó kiếm được người tin cẩn, để mà chung nhau góp vốn. Nhời nói ấy cũng có lẽ nhưng cũng bởi không biết cách thu người đó thôi. Vì người nước ta phần nhiều không có học thức, làm việc gì chửa biết nghĩ xa, không có lòng kiên nhẫn, hơi việc gì lúng túng một chút đã ngả lòng, như thế thì bao giờ nên được công cuộc. Nếu mà tìm được người có học thức, có kiên tâm thì nên tin cẩn nhau mà làm, chắc là có thể gây dựng được.
Người ta lại có nhiều nhẽ làm được việc hơn người xứ khác là vì trong nước có sản vật nhiều, nhân công thuê mướn rẻ. Và lúc mình làm ra được, nhà – nước cũng chiếu cố đến hoặc khen thưởng cho, hoặc đánh thêm thuế đồ nhập cảng, để đò bản – xứ bán cho được nhiều.
Vậy thì việc kỹ – nghệ là việc rất cần cho sự làm giàu trong nước. Các người có học thức hoặc là các ông hào phú trong làng trong tổng, nên nghĩ đến mà lo lấy hậu – vận cho nước nhà. Nếu biết cùng nhau mà hợp bàn, thì nghề gì làm cũng phải nên. Xưa nay tốn đến hàng triệu mà mua đồ tơ đồ vải đồ sứ của Tầu và của Tây – đen, có thể cũng kéo lại được ít nhiều, khỏi phải mất cho họ làm giàu nữa.
Nhà – nước bảo – hộ đã hết lòng giúp ta để cho công nghệ ta phát đạt thì ta nên phải suy nghĩ làm cho được giầu có, cho xứng đáng tấm lòng của nhà nước mong cho ta., mà ta theo cái cầu văn – minh của nhà nước bắc cho ta noi. Thế không phải là một việc ích cho xã – hội đấy ư ? Không phải là một việc hay cho hậu – vận nước ta đấy ư ?
Thống – sứ phủ lai cáo.